Đó là nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam tại Nhật Bản trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về ý nghĩa chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 8-11/11/2026 theo lời mời của Nhà nước Nhật Bản.
Phóng viên: Nhận lời mời của Nhà nước Nhật Bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 8-11/11/2026. Vậy với tư cách là Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam ở Nhật Bản, ông có thể cho biết, chuyến thăm này có ý nghĩa như thế nào đối với cộng đồng người Việt Nam ở sở tại?
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn: Theo tôi, chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nhật Bản, mà còn đối với cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản.
Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai những định hướng mới của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, chuyến thăm càng có ý nghĩa sâu sắc. Đây là sự khẳng định nhất quán rằng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của dân tộc, đồng thời thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với những tâm tư, nguyện vọng và khát vọng cống hiến của kiều bào.
Điểm đáng chú ý trong tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW là sự chuyển biến từ việc chủ yếu tập hợp, chăm lo, hỗ trợ kiều bào sang chủ động tạo điều kiện để kiều bào phát huy năng lực, trí tuệ, kinh nghiệm và các mối quan hệ quốc tế, tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển đất nước. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải có những cơ chế kết nối thực chất, để nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài được chuyển hóa thành những đóng góp cụ thể.
Đối với cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản, đây là cơ hội và cũng là trách nhiệm lớn. Nhật Bản là quốc gia có thế mạnh về khoa học công nghệ, quản trị, đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo. Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản hiện đã có gần 700.000 người, với lực lượng ngày càng đông đảo gồm trí thức, chuyên gia, doanh nhân, người lao động và thế hệ trẻ, có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành cầu nối chuyển giao tri thức, công nghệ, thúc đẩy đầu tư, thương mại và hợp tác giữa hai quốc gia.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 23, tôi cho rằng, cần chuyển từ kết nối mang tính phong trào sang hợp tác có mục tiêu, có cơ chế phối hợp và có kết quả đo lường được. Đồng thời, các hội đoàn người Việt Nam tại Nhật Bản phải chủ động đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường đoàn kết, hỗ trợ hội nhập, bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà con và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Tôi kỳ vọng, chuyến thăm lần này với nhiều hoạt động song phương sẽ tạo thêm động lực để quan hệ Việt Nam-Nhật Bản phát triển sâu rộng, đồng thời mở ra những cơ hội thiết thực để kiều bào tham gia vào các chương trình phát triển quốc gia. Quan trọng hơn, mỗi người Việt Nam dù ở đâu cũng có thể đóng góp cho Tổ quốc bằng chính tri thức, năng lực và công việc của mình. Đó cũng là cách để tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, biến tình cảm hướng về quê hương thành những giá trị cụ thể cho đất nước.
Phóng viên: Nghị quyết số 23-NQ/TW về cơ bản không thay đổi nền tảng tư tưởng của Nghị quyết số 36-NQ/TW mà kế thừa toàn diện tinh thần đại đoàn kết dân tộc và phát triển lên một bước mới. Vậy theo ông, đâu là điểm mới có ý nghĩa quan trọng nhất của Nghị quyết 23 là gì?
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn: Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 không đơn thuần là sự tiếp nối một chủ trương đã có. Tôi cho rằng ý nghĩa quan trọng của Nghị quyết nằm ở sự chuyển đổi về tư duy: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng cần vận động, tập hợp, chăm lo, mà ngày càng được nhìn nhận như một chủ thể đồng hành với đất nước, một nguồn lực chiến lược và một cầu nối giữa Việt Nam với thế giới.
Nghị quyết 23 ra đời trong bối cảnh cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có những thay đổi rất lớn cả về quy mô, cơ cấu và vị thế. Theo Nghị quyết, hiện có hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, cộng đồng có xu hướng trẻ hóa và hội nhập ngày càng sâu vào xã hội sở tại. Chính sự thay đổi đó đòi hỏi công tác người Việt Nam ở nước ngoài cũng phải thay đổi tương ứng.
Nhật Bản là một trường hợp có thể nhìn thấy khá rõ sự chuyển biến ấy. Theo số liệu chính thức của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Nhật Bản, đến cuối năm 2025 có hơn 681.000 người Việt Nam cư trú tại Nhật Bản, tăng 46.739 người so với một năm trước và là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật, chỉ sau Trung Quốc. Trong khi đó, thống kê của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản cho thấy đến cuối tháng 10/2025 có 605.906 lao động Việt Nam, chiếm 23,6% tổng số lao động nước ngoài và đứng đầu trong các quốc tịch đang làm việc tại Nhật Bản.
Những con số ấy không chỉ nói lên quy mô. Quan trọng hơn, cộng đồng người Việt tại Nhật Bản ngày nay không còn đơn thuần là cộng đồng của du học sinh hay thực tập sinh như cách nhìn phổ biến trước đây. Bên cạnh lực lượng lao động trực tiếp, ngày càng có nhiều kỹ sư, chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nhân, người làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn và các gia đình xác định gắn bó lâu dài với Nhật Bản. Sự hiện diện của người Việt cũng đã mở rộng từ các đô thị lớn như Tokyo, Osaka, Nagoya đến hầu hết các địa phương.
Vì vậy, khi nói đến “nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài”, nếu chỉ nghĩ đến kiều hối hay dòng vốn đầu tư thì chưa đủ. Nguồn lực đó còn là tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới quan hệ, khả năng tiếp cận thị trường, sự hiểu biết về pháp luật và văn hóa sở tại, cũng như một thế hệ trẻ có khả năng sử dụng ngôn ngữ và tư duy của cả hai quốc gia.
Theo tôi, một kỹ sư Việt Nam đang làm việc trong doanh nghiệp công nghệ Nhật Bản, một nhà khoa học nghiên cứu tại trường đại học, một doanh nhân hiểu hệ thống phân phối của Nhật, hay một người Việt có quan hệ sâu rộng với chính quyền địa phương đều có thể đóng góp cho đất nước theo những cách khác nhau. Vấn đề không còn chỉ là chúng ta có nguồn lực hay không, mà là làm thế nào để kết nối nguồn lực ấy với những nhu cầu cụ thể của Việt Nam.
Phóng viên: Tính đến thời điểm này, Nghị quyết số 23-NQ/TW đã ban hành được gần 3 tháng, đối với cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản, việc quán triệt và đưa Nghị quyết vào cuộc sống đã được triển khai như thế nào thưa ông?
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn: Qua nhiều năm tham gia công tác cộng đồng tại Nhật Bản, điều chúng tôi cảm nhận khá rõ là các cơ quan trong nước ngày càng chú trọng hơn đến việc đối thoại trực tiếp với bà con. Khi các đoàn công tác của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các ban, bộ, ngành sang Nhật Bản làm việc và gặp gỡ đại diện các hội đoàn, một nội dung thường xuyên được quan tâm là lắng nghe những vấn đề thực tế của cộng đồng: từ lao động, cư trú, giáo dục thế hệ trẻ, giữ gìn tiếng Việt đến việc làm thế nào để người Việt tại Nhật có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước.
Ở chiều ngược lại, các hội đoàn cũng ngày càng ý thức rằng vai trò của mình không chỉ là tổ chức hoạt động phong trào. Liên hiệp hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Hội Phật tử Việt Nam tại Nhật Bản, Tổ chức Giao lưu Quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA), Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Nhật Bản, các Hội đoàn người Việt tại các địa phương cùng nhiều tổ chức cộng đồng khác thường xuyên tham dự các chương trình đối thoại, tuyên truyền, phổ biến pháp luật do các cơ quan nhà nước và cơ quan đại diện Việt Nam tổ chức. Khi có điều kiện, đại diện các hội đoàn trực tiếp nêu những vấn đề đang phát sinh trong cộng đồng, đóng góp ý kiến và đề xuất giải pháp.
Một ví dụ gần đây cho thấy khá rõ cách thức tương tác này là chương trình ngày 19/9/2026 do đoàn Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội tổ chức tại Tokyo. Chương trình kéo dài gần 4 giờ, vừa thông tin những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 23-NQ/TW, vừa phổ biến, giải đáp pháp luật và dành thời gian đối thoại với đại diện cộng đồng. Đại diện Liên hiệp hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Hội Phật tử Việt Nam tại Nhật Bản, Tổ chức Giao lưu Quốc tế Nhật Bản-Việt Nam và các tổ chức khác đã trực tiếp nêu những vấn đề từ thực tế đời sống liên quan đến lao động, cư trú, hộ tịch, giấy tờ dân sự và thủ tục pháp lý giữa hai nước.
Theo tôi, những cuộc gặp như vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài việc giải quyết từng câu hỏi cụ thể. Nó cho thấy sự “đồng hành” của các cơ quan quản lý thông qua việc trực tiếp lắng nghe thực chất tâm tư, nguyện vọng của kiều bào. Chính sách dành cho cộng đồng sẽ khó đi vào cuộc sống nếu chỉ được xây dựng từ góc nhìn của cơ quan quản lý mà thiếu những thông tin từ những người đang trực tiếp sinh sống, làm việc và hội nhập ở nước ngoài. Ngược lại, cộng đồng cũng không thể chỉ nêu khó khăn mà cần từng bước chuyển từ vị trí người thụ hưởng chính sách sang người tham gia đề xuất và cùng thực hiện chính sách.
Phóng viên: Nghị quyết số 23-NQ-TW nhấn mạnh, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Vậy để phát huy nguồn lực kiều bào vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước, cần phải kiến tạo cơ chế như thế nào, thưa ông?
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn: Nghị quyết số 23-NQ-TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nâng tầm tư duy từ "vận động, tập hợp, chăm lo" lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết số 23-NQ-TW nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước, Chính phủ trong việc hoàn thiện các thể chế, cơ chế và chính sách để thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài". Đây chính là một trong những giá trị đáng chú ý nhất của tinh thần Nghị quyết 23. “Kiến tạo cơ chế” phải được hiểu là tạo ra những con đường cụ thể để người Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia vào những công việc cụ thể của đất nước.
Trong nhiều năm, chúng ta thường nói rằng cần “phát huy nguồn lực kiều bào” hay “kêu gọi trí thức, doanh nhân kiều bào đóng góp”. Những lời kêu gọi đó cần thiết, nhưng trong giai đoạn hiện nay có lẽ cần đi thêm một bước. Thay vì chỉ hỏi kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước, các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp trong nước có thể đưa ra những “đề bài” cụ thể: Việt Nam đang cần công nghệ gì; địa phương nào cần kết nối với doanh nghiệp Nhật Bản; ngành nào cần chuyên gia; sản phẩm nào cần tiếp cận hệ thống phân phối Nhật Bản; trường đại học nào cần chương trình nghiên cứu chung.
Khi “đề bài” rõ ràng, một chuyên gia Việt Nam tại Nhật có thể biết mình tham gia vào đâu. Một giáo sư không nhất thiết phải trở về Việt Nam làm việc toàn thời gian nhưng có thể đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh hoặc tham gia một dự án nghiên cứu. Một kỹ sư có thể chuyển giao quy trình kỹ thuật. Một doanh nhân có thể kết nối sản phẩm Việt Nam với hệ thống phân phối Nhật Bản. Một hội đoàn có thể kết nối chính quyền hai địa phương.
Với nhiều hoạt động song phương, chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tạo thêm động lực để quan hệ Việt Nam-Nhật Bản phát triển sâu rộng, đồng thời mở ra những cơ hội thiết thực để kiều bào tham gia vào các chương trình phát triển quốc gia. Quan trọng hơn, mỗi người Việt Nam dù ở đâu cũng có thể đóng góp cho Tổ quốc bằng chính tri thức, năng lực và công việc của mình. Đó cũng là cách để tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, biến tình cảm hướng về quê hương thành những giá trị cụ thể cho đất nước.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam tại Nhật Bản
Như vậy, tư duy cần chuyển từ “kêu gọi đóng góp” sang “thiết kế cơ chế để đóng góp”, và từ những lời kêu gọi chung sang phương thức “đặt hàng -kết nối -cùng thực hiện”. Đây cũng là cách để nguồn lực của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không tồn tại như những nguồn lực riêng lẻ mà có thể tham gia vào một hệ sinh thái phát triển chung của đất nước.
Phóng viên: Trước sự thay đổi tư duy của Nhà nước về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, với tư cách là Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam ở nước ngoài, xin ông cho biết, các hội, đoàn của cộng đồng người Việt Nam tại sở tại cần làm gì để làm tốt vai trò là cầu nối hiệu quả nguồn lực kiều bào, đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn phát triển mới?
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn: Sự thay đổi về tư duy của Nhà nước cũng đặt ra yêu cầu thay đổi đối với chính các hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu cộng đồng đã thay đổi thì phương thức tập hợp cộng đồng không thể đứng yên.
Hội đoàn vẫn cần làm tốt những công việc truyền thống như hỗ trợ bà con khi gặp khó khăn, tổ chức hoạt động văn hóa, gìn giữ tiếng Việt và tạo không gian kết nối. Nhưng trong giai đoạn mới, hội đoàn cần tiến thêm một bước để trở thành những nút kết nối nguồn lực: kết nối người Việt với người Việt, kết nối cộng đồng với cơ quan đại diện và trong nước, kết nối người Việt với chính quyền và xã hội sở tại, đồng thời kết nối nhu cầu phát triển của Việt Nam với những nguồn lực đang tồn tại ở Nhật Bản.
Điều này càng quan trọng khi cộng đồng đã đạt quy mô hàng trăm nghìn người. Một cộng đồng gần 700.000 người nếu được tổ chức thành những mạng lưới chuyên môn, doanh nghiệp, trí thức, thanh niên, phụ nữ, văn hóa, giáo dục và các hội địa phương, cộng đồng ấy có thể trở thành một dạng “hạ tầng mềm” trong quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.
Một hội người Việt tại một tỉnh của Nhật Bản có thể góp phần kết nối địa phương đó với một tỉnh của Việt Nam. Một hiệp hội doanh nghiệp có thể kết nối chuỗi cung ứng. Một mạng lưới trí thức có thể thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Một tổ chức văn hóa có thể đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với người dân Nhật Bản. Khi những mắt xích ấy liên kết với nhau, sức mạnh của cộng đồng sẽ lớn hơn rất nhiều so với tổng số đóng góp riêng lẻ của từng cá nhân.
Từ thực tế Nhật Bản, tôi cho rằng cũng cần nhìn rộng hơn về khái niệm “hướng về quê hương”. Không phải mọi đóng góp cho Việt Nam đều nhất thiết phải diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Một người Việt làm việc nghiêm túc, tuân thủ pháp luật và được đồng nghiệp Nhật Bản tin tưởng đang góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam. Một doanh nghiệp của người Việt kinh doanh minh bạch, có uy tín đang góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia. Một sinh viên đạt thành tích tốt, một kỹ sư được doanh nghiệp Nhật đánh giá cao, một gia đình Việt Nam sống trách nhiệm với khu dân cư nơi mình sinh sống – những điều tưởng như rất bình thường ấy đều tác động đến cách xã hội Nhật Bản nhìn nhận về Việt Nam và người Việt Nam.
Trong một cộng đồng có gần 700.000 người Việt Nam tại Nhật Bản như hiện nay, việc hiểu và tuân thủ pháp luật sở tại càng trở nên quan trọng. Chính vì vậy, hoạt động phổ biến pháp luật mà các cơ quan đại diện và hội đoàn đang thực hiện không nên được xem là việc xử lý vấn đề khi đã phát sinh vi phạm; đó phải là một phần của chiến lược xây dựng một cộng đồng ổn định, có trách nhiệm và có uy tín. Thực tế, tại chương trình đối thoại ở Đại sứ quán, phía cơ quan đại diện Việt Nam cũng nhấn mạnh rằng hiểu và tuân thủ pháp luật Nhật Bản vừa giúp mỗi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vừa góp phần xây dựng hình ảnh cộng đồng.
Bởi vậy, theo tôi, hai mục tiêu “hướng về quê hương” và “hội nhập sâu vào xã hội sở tại” không đối lập mà bổ trợ cho nhau. Một cộng đồng càng có vị thế và được xã hội sở tại tôn trọng thì tiếng nói của cộng đồng càng có trọng lượng và khả năng đóng góp cho quan hệ giữa Việt Nam với nước sở tại càng lớn.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn!
Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài
Mở ra những cơ hội thiết thực để cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản tham gia vào các chương trình phát triển quốc gia
Mở rộng không gian đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường gắn bó cộng đồng người Việt ở châu Âu
Tiếp thêm động lực lập nghiệp, gìn giữ bản sắc người Việt tại Rennes và Vitré (Pháp)
Khánh Lan