Bỏ qua điều hướng

Mở rộng dư địa hợp tác khoa học, công nghệ với Hoa Kỳ và Canada

Mở rộng dư địa hợp tác khoa học, công nghệ với Hoa Kỳ và Canada
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Theo các chuyên gia, quan hệ với Hoa Kỳ và Canada còn nhiều dư địa để Việt Nam thu hút nguồn lực khoa học, công nghệ, chất lượng cao và kết nối đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Việt Nam-Canada và cơ hội hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo Khoa học công nghệ mở đường cho đặc sản vùng ...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Mỹ; thăm cấp Nhà nước tới Canada theo lời mời của Toàn quyền Canada Louise Arbour, từ ngày 20-25/9.

Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ và Canada diễn ra trong thời điểm Việt Nam đẩy mạnh mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Theo các chuyên gia, quan hệ với Hoa Kỳ và Canada còn nhiều dư địa để Việt Nam thu hút nguồn lực khoa học, công nghệ, chất lượng cao và kết nối đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, qua đó phục vụ các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới.

Từ khuôn khổ hợp tác đến những nguồn lực phát triển mới

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chuyến công tác lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gắn ba yếu tố: Vị thế, quan hệ và nguồn lực phát triển.

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, tiến hành các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ và thăm cấp Nhà nước tới Canada cho thấy hoạt động đối ngoại của Việt Nam ngày càng gắn chặt hơn với yêu cầu mở rộng hợp tác và huy động nguồn lực cho phát triển đất nước; thể hiện sự tham gia chủ động, tích cực của Việt Nam vào các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế như quyền phát triển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những chuyển đổi lớn trên thế giới trong bối cảnh Việt Nam hướng tới dấu mốc 50 năm gia nhập Liên hợp quốc.

Đối với Hoa Kỳ, quan hệ hai nước đã có khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là tiếp tục đưa các định hướng hợp tác vào những chương trình, dự án cụ thể, mang lại hiệu quả thiết thực. Khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, chuỗi cung ứng, năng lượng và đào tạo nguồn nhân lực là những lĩnh vực còn nhiều tiềm năng; trong đó, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, hạ tầng số, công nghệ lượng tử, năng lượng và vật liệu tiên tiến là những lĩnh vực có thể tạo thêm giá trị cho hợp tác song phương. Với bán dẫn, hợp tác có thể mở rộng từ đóng gói, kiểm thử và sản xuất sang thiết kế vi mạch, nghiên cứu và phát triển, vật liệu, thiết bị, phần mềm thiết kế và đào tạo kỹ sư. Với trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số, hai bên có thể tăng cường nghiên cứu chung, phát triển các trung tâm nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng trong sản xuất, y tế, nông nghiệp, quản lý đô thị và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phát triển nguồn nhân lực cũng là một nội dung quan trọng; hoạt động đào tạo cần gắn với đầu tư, nghiên cứu và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cùng với đó là tăng kết nối các chuyên gia người Việt Nam tại Hoa Kỳ với các nhóm nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp công nghệ trong nước. Hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước có vai trò trực tiếp trong việc đưa những định hướng đã có thành dự án. Cùng với bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, các lĩnh vực như năng lượng sạch, vật liệu mới, khoáng sản thiết yếu và chuỗi cung ứng công nghệ cũng còn nhiều dư địa. Những dự án có hàm lượng công nghệ và nghiên cứu cao hơn sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các mạng lưới sản xuất và đổi mới sáng tạo.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chiến Thắng cho rằng hiệu quả hợp tác không nên chỉ nhìn vào số lượng dự án, quy mô vốn đầu tư hay số người được đào tạo. Điều quan trọng hơn là Việt Nam hình thành thêm được những năng lực mới trong nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm. Từ đó, hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ có thể từng bước đi sâu hơn vào những khâu có giá trị cao, tăng khả năng cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ và phối hợp xây dựng nguồn nhân lực.

Đối với Canada, chuyến thăm cấp Nhà nước lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tạo thêm động lực cho quan hệ hai nước sau hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Việt Nam và Canada có nhiều thế mạnh có thể bổ sung cho nhau. Canada có lợi thế về năng lượng, khoáng sản chiến lược, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sạch, nông nghiệp và giáo dục; trong khi Việt Nam có nhu cầu ngày càng lớn về công nghệ, vốn, nguồn nhân lực và nâng cấp năng lực sản xuất. Thương mại và đầu tư tiếp tục là nền tảng quan trọng. Hai nước có thể khai thác tốt hơn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, tăng kết nối doanh nghiệp và tham gia các chuỗi giá trị mới. Hợp tác kinh tế giữa Canada với ASEAN cũng mở thêm cơ hội về thị trường, đầu tư và liên kết khu vực.

Từ nền tảng này, năng lượng, khoáng sản thiết yếu và công nghệ sạch là những lĩnh vực có nhiều khả năng thúc đẩy giữa hai bên. Canada có nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm quản trị, còn Việt Nam có nhu cầu về vốn và công nghệ cho chuyển đổi năng lượng, phát triển xanh và nâng cấp công nghiệp. Bên cạnh đó, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng có thể trở thành một điểm nhấn mới trong quan hệ hai nước. Trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử, bán dẫn, công nghệ tài chính và công nghệ sạch là những hướng còn nhiều tiềm năng. Đây cũng là cơ sở để tăng kết nối giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và hệ sinh thái khởi nghiệp. Hợp tác nghiên cứu và trao đổi học thuật có thể được đẩy mạnh theo hướng thực chất hơn. Hai bên có thể hình thành các nhóm nghiên cứu chung, trao đổi nghiên cứu viên dài hạn, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, đồng công bố và tổ chức đối thoại học thuật định kỳ. Những hoạt động như vậy không chỉ tạo thêm sản phẩm nghiên cứu mà còn giúp xây dựng mạng lưới hợp tác lâu dài.

Đối với Viện Nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ, các hướng nghiên cứu có thể tập trung vào chính sách và quan hệ đối ngoại của Canada; quan hệ Canada với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và ASEAN; các khuôn khổ thương mại và liên kết kinh tế; chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, quản trị công, năng lượng, khoáng sản chiến lược, biến đổi khí hậu và an ninh năng lượng. Trên cơ sở đó, có thể thúc đẩy nghiên cứu chung, trao đổi học giả, đồng xuất bản và đối thoại chính sách với các đối tác Canada.

Kết nối nguồn lực trí thức, thúc đẩy hợp tác khoa học

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Phó Trưởng Ban Hợp tác quốc tế (Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam) cho rằng, một trong những cơ hội đáng chú ý từ chuyến công tác là mở rộng và làm sâu sắc hơn mạng lưới kết nối với các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân công nghệ và tổ chức nghiên cứu tại Hoa Kỳ và Canada.

ttxvn-chuyen-cong-tac-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-mo-rong-du-dia-hop-tac-khoa-hoc-cong-nghe-voi-hoa-ky-va-canada-9040599-1.jpg
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Phó Trưởng Ban Hợp tác quốc tế (Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam), đề xuất hướng tới cụ thể hóa vai trò kết nối trí thức Việt Nam với cộng đồng khoa học quốc tế, qua đó phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ phát triển. (Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN)

Tại hai quốc gia này, nhiều trí thức người Việt Nam đang làm việc ở các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và trung tâm đổi mới sáng tạo. Nếu có cơ chế kết nối phù hợp, đội ngũ này có thể tham gia vào các chương trình nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực, tư vấn chính sách, phát triển công nghệ và kết nối với các đối tác quốc tế.

Thông qua mạng lưới trí thức ở nước ngoài, Việt Nam có thể tiếp cận nhanh hơn với những xu hướng công nghệ mới, các chuyên gia có chuyên môn sâu và những chương trình nghiên cứu phù hợp với nhu cầu trong nước. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, chuyển đổi xanh, năng lượng sạch, công nghệ sinh học, khoáng sản quan trọng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là những lĩnh vực có nhiều khả năng mở rộng hợp tác.

Từ những kết nối này, có thể hình thành các nhóm nghiên cứu với đối tác tại Hoa Kỳ và Canada, kết nối phòng thí nghiệm, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; triển khai các chương trình đồng hướng dẫn, đào tạo thế hệ nghiên cứu trẻ hoặc đặt hàng những nhiệm vụ khoa học và công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tế trong nước.

Trong thời gian tới, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam định hướng tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, mở rộng kết nối với các tổ chức khoa học quốc tế, hiệp hội nghề nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Cùng với đó là chú trọng tập hợp đội ngũ trí thức trẻ và thu hút nguồn lực trí thức từ bên ngoài. Các mạng lưới chuyên gia có thể được hình thành theo từng nhóm vấn đề như biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, phát triển bền vững, y tế, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và chuyển đổi số. Qua đó, đội ngũ trí thức Việt Nam có thêm điều kiện tham gia vào các diễn đàn, sáng kiến và chương trình khoa học quốc tế.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam hướng tới cụ thể hóa vai trò kết nối trí thức Việt Nam với cộng đồng khoa học quốc tế, nghiên cứu với doanh nghiệp và tri thức với nhu cầu phát triển của đất nước thông qua các chương trình hợp tác về nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, qua đó phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ phát triển Việt Nam./.

(TTXVN/Vietnam+)
Chuyến công tác Hoa Kỳ và Canada từ ngày 20 đến 25/9 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh dấu bước đi chiến lược trong việc mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Sự kiện gắn liền với Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, thể hiện tinh thần chủ động của Việt Nam trước các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu hay chuyển đổi số. Đây là thời điểm then chốt để Việt Nam cụ thể hóa các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ, quan hệ với Hoa Kỳ đã có nền tảng vững chắc từ khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện. Yêu cầu cấp thiết hiện nay là chuyển hóa các định hướng chiến lược thành dự án cụ thể mang lại hiệu quả thực tế. Nguồn lực từ thị trường này sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho Việt Nam trong các lĩnh vực tiên phong như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số và công nghệ lượng tử. Trong lĩnh vực bán dẫn, định hướng hợp tác được kỳ vọng mở rộng từ đóng gói, kiểm thử sang thiết kế vi mạch, nghiên cứu phát triển và đào tạo kỹ sư chất lượng cao. Bên cạnh đó, các dự án trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số sẽ hướng tới ứng dụng trực tiếp trong sản xuất, y tế, nông nghiệp và quản lý đô thị. Việc kết nối chặt chẽ đội ngũ chuyên gia người Việt Nam tại Bắc Mỹ với các cơ sở nghiên cứu trong nước sẽ tạo động lực bứt phá cho doanh nghiệp hai bên.