Bỏ qua điều hướng
•

Mùi từ rốn có thể giúp nhận diện Parkinson và suy giảm nhận thức?

Mùi từ rốn có thể giúp nhận diện Parkinson và suy giảm nhận thức?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Dấu vết hóa học trong mùi rốn có thể giúp phân biệt người khỏe mạnh với người mắc suy giảm nhận thức nhẹ hoặc Parkinson, theo một nghiên cứu quy mô nhỏ.

Mùi từ rốn có thể giúp nhận diện Parkinson và suy giảm nhận thức? - 1

Mùi rốn có thể giúp phát hiện bệnh (Ảnh minh hoạ: Pexels).

Trước nay, các nghiên cứu chẩn đoán bệnh qua mùi cơ thể thường tập trung vào hơi thở hoặc tuyến mồ hôi. Tuy nhiên, hai nguồn này rất dễ bị biến đổi bởi thức ăn, nước hoa và mỹ phẩm. 

Ngược lại, khu vực rốn lại là nơi ít chịu tác động trực tiếp từ xà phòng, hương liệu hay ma sát quần áo, qua đó lưu giữ những dấu vết hóa học nguyên bản hơn dự kiến.

Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Viện Fraunhofer IIS thực hiện, khảo sát ban đầu gồm 24 người (được cân bằng về độ tuổi và giới tính), chia đều thành 4 nhóm: 6 người mắc Parkinson, 6 người bị suy giảm nhận thức nhẹ, 6 người mới khỏi Covid-19 và 6 người khỏe mạnh.

Mỗi người được lấy mẫu bằng tăm bông trong khoảng 10 giây tại 3 vị trí bao gồm rốn, mũi và ống tai. Sau đó, tăm bông được đặt vào buồng kín thổi khí tinh khiết. 

Nhóm nghiên cứu chiếu tia laser hồng ngoại xuyên qua khí thoát ra từ mẫu. Khi các phân tử mùi hấp thụ bước sóng ánh sáng đặc trưng, chúng làm nóng nhẹ khối khí xung quanh và tạo ra các dao động âm thanh cực nhỏ.

Thiết bị micro siêu nhạy sẽ ghi lại tín hiệu này.

Kết quả cho thấy mẫu mùi ở rốn mang tín hiệu rõ nét nhất, vượt trội hơn vùng mũi và tai.

Cụ thể, phân tích dữ liệu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa người khỏe mạnh và nhóm suy giảm nhận thức nhẹ, trong khi dấu hiệu ở bệnh nhân Parkinson và hậu Covid-19 vẫn có độ trùng lặp nhất định.

Để kiểm chứng, nhóm thử nghiệm thêm 3 bệnh nhân Parkinson mới. Dữ liệu của họ khớp chính xác với mô hình ban đầu, khẳng định kết quả phản ánh đúng bệnh lý chứ không phải do sai số phòng thí nghiệm.

Đáng chú ý, các nhà khoa học nhận thấy chỉ cần đối chiếu 5 bước sóng đặc trưng (thay vì toàn bộ 730 bước sóng) là đã đủ phân biệt các nhóm bệnh. Điều này mở ra triển vọng chế tạo các thiết bị cầm tay y học nhỏ gọn, thay thế dàn máy đo cồng kềnh hiện tại.

Dù mở ra hướng tiếp cận giàu triển vọng, nhóm tác giả nhấn mạnh đây mới chỉ là nghiên cứu chứng minh tính khả thi ở quy mô ban đầu.

Quy mô 6 tình nguyện viên cho mỗi nhóm là quá nhỏ để đưa ra bất kỳ kết luận y khoa mang tính khẳng định. 

Ngoài ra, tuổi tác và tình trạng bệnh lý có mối liên hệ mật thiết, bởi Parkinson và suy giảm nhận thức chủ yếu xuất hiện ở người cao tuổi.

Thử nghiệm hiện cũng diễn ra trong môi trường phòng sạch tiêu chuẩn nghiêm ngặt; ngoài đời sống thực, các yếu tố như ô nhiễm không khí hay sản phẩm vệ sinh cá nhân hoàn toàn có thể làm sai lệch kết quả.

Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Scientific Reports.

Nghiên cứu từ Viện Fraunhofer IIS đăng trên tạp chí Scientific Reports vừa mở ra hướng chẩn đoán y khoa mới thông qua việc phân tích dấu vết hóa học nguyên bản từ mùi vùng rốn. Khác với hơi thở hay tuyến mồ hôi thường xuyên chịu biến động bởi thực phẩm và mỹ phẩm, rốn là khu vực ít bị tác động trực tiếp từ xà phòng hay ma sát quần áo. Nhờ đó, môi trường này lưu giữ các tín hiệu phân tử ổn định, tạo tiền đề cho việc phân biệt người khỏe mạnh với các bệnh nhân mắc chứng suy giảm nhận thức nhẹ hoặc bệnh Parkinson. Thử nghiệm ban đầu được thực hiện trên 24 tình nguyện viên chia đều thành bốn nhóm gồm người khỏe mạnh, bệnh nhân Parkinson, suy giảm nhận thức nhẹ và người mới khỏi Covid-19. Bằng kỹ thuật chiếu laser hồng ngoại qua mẫu khí thu được từ rốn kết hợp micro thu âm dao động phân tử siêu nhạy, các nhà khoa học ghi nhận tín hiệu rõ nét vượt trội so với mẫu lấy từ mũi hay tai. Đáng chú ý, hệ thống chỉ cần phân tích 5 bước sóng đặc trưng thay vì toàn bộ 730 bước sóng là đã đủ để nhận diện và phân loại chính xác các nhóm bệnh. Khi kiểm chứng độc lập trên 3 bệnh nhân Parkinson mới, dữ liệu thu được trùng khớp hoàn toàn với mô hình ban đầu, khẳng định tính chính xác của phương pháp phản ánh đúng bản chất bệnh lý. Đột phá này mở ra triển vọng chế tạo các thiết bị chẩn đoán y tế cầm tay nhỏ gọn, thay thế hiệu quả cho dàn máy đo cồng kềnh hiện tại. Mặc dù mở ra hướng tiếp cận giàu tiềm năng, các tác giả lưu ý nghiên cứu mới dừng ở mức chứng minh tính khả thi trên quy mô thử nghiệm nhỏ. Việc kiểm soát các yếu tố gây nhiễu như ô nhiễm không khí, thói quen vệ sinh hay sự tương quan về tuổi tác trong môi trường thực tế sẽ là thách thức lớn cần hoàn thiện trước khi đưa công nghệ vào ứng dụng lâm sàng.