Bỏ qua điều hướng
•

Muốn giữ rừng, phải giúp dân sống được nhờ rừng

Muốn giữ rừng, phải giúp dân sống được nhờ rừng
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Sở hữu hệ động, thực vật phong phú, nhiều loài quý hiếm, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Nghệ An) giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn nước khu vực miền Tây xứ Nghệ. Theo ông Võ Minh Sơn - Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, để giữ được màu xanh ...

Là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An, Pù Huống được đánh giá có giá trị đa dạng sinh học cao. Ông có thể chia sẻ những nét đặc trưng nổi bật về hệ động, thực vật và vai trò sinh thái của khu bảo tồn?

Ông Võ Minh Sơn: Pù Huống được thành lập năm 1986, ban đầu nhằm bảo vệ các loài cây gỗ quý như Pơ mu, Sa mộc. Đến năm 1995, các nhà khoa học ghi nhận dấu hiệu xuất hiện của Sao la - một trong những loài thú hiếm nhất thế giới. Đây là cơ sở quan trọng để mở rộng và xác lập khu bảo tồn như hiện nay.

tp_2.jpg
Khu BTTN Pù Huống đa dạng sinh học với gần 1.800 loài thực vật và hơn 1.000 loài động vật.

Hiện đơn vị được giao quản lý hơn 46.400 ha rừng, trong đó trên 40.000 ha là rừng đặc dụng, trải rộng trên địa bàn 8 xã miền núi của tỉnh Nghệ An. Cùng với Vườn quốc gia Pù Mát và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Pù Huống là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An.

Đặc trưng của Pù Huống là địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh, với đỉnh Pù Hon cao 1.447 m. Sự khác biệt về độ cao và điều kiện tự nhiên tạo nên nhiều kiểu sinh cảnh, từ rừng kín thường xanh vùng thấp đến rừng á nhiệt đới núi thấp, là nền tảng cho sự phong phú của hệ động, thực vật.

Theo kết quả tổng hợp trong Phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2026-2030, Pù Huống đã ghi nhận 1.787 loài thực vật thuộc 191 họ, trong đó có 928 loài cây làm thuốc và 185 loài thực vật có nguy cơ bị đe dọa. Hệ động vật có 1.047 loài, bao gồm 98 loài thú, 268 loài chim, 84 loài bò sát, 52 loài lưỡng cư, 112 loài cá và 433 loài côn trùng. Trong số này, 141 loài thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm.

Nhiều loài thực vật có giá trị bảo tồn cao được ghi nhận tại đây như Pơ mu, Thông tre, Kim giao, Kiền kiền, Sến mật, Nghiến cùng các loài dược liệu quý. Hệ sinh thái rừng cũng là nơi cư trú của nhiều loài linh trưởng, gà tiền mặt vàng và các loài thú, chim, bò sát, lưỡng cư quý hiếm.

tp_671247433-960428979969197-4370566632684279229-n.jpg
Ông Võ Minh Sơn - Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống.

Không chỉ là nơi lưu giữ nguồn gen quý, Pù Huống còn có vai trò phòng hộ đầu nguồn đặc biệt quan trọng. Hơn 40.000ha rừng của khu bảo tồn nằm trong lưu vực các nhà máy thủy điện Khe Bố, Nậm Pông, Nhạn Hạc, Chi Khê, góp phần điều tiết nguồn nước cho sông Hiếu, sông Lam, hạn chế tác động của thiên tai và bảo đảm nguồn nước phục vụ đời sống, sản xuất của người dân vùng hạ du.

Trước áp lực từ nạn săn bắt động vật hoang dã, khai thác lâm sản và những hành vi xâm hại rừng, Ban Quản lý đang triển khai những giải pháp nào để bảo vệ hệ sinh thái, bảo tồn các loài quý hiếm?

Ông Võ Minh Sơn: Áp lực lên tài nguyên rừng vẫn còn hiện hữu, đặc biệt là tình trạng đặt bẫy, săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ, lâm sản và khai thác vàng trái phép tại một số khu vực giáp ranh. Vì vậy, chúng tôi xác định bảo vệ rừng phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ, kết hợp giữa lực lượng chuyên trách, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư.

Trước hết, Ban Quản lý tăng cường tuần tra, kiểm tra trực tiếp tại các khu vực rừng trọng điểm. Bảy trạm quản lý, bảo vệ rừng duy trì hoạt động theo kế hoạch hằng tháng, tổ chức tuần tra theo nhóm, tập trung vào vùng lõi và những địa bàn có nguy cơ xảy ra vi phạm. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng đã tổ chức 855 đợt tuần tra, tháo gỡ 399 bẫy động vật, không để xảy ra cháy rừng.

tp_image-7907.jpg
tp_image-8203.jpg
Nhiều loài động, thực vật quý hiếm được ghi nhận.

Cùng với đó, chúng tôi đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong giám sát tài nguyên. Ban Quản lý sử dụng thiết bị định vị phục vụ tuần tra, lắp đặt 120 máy bẫy ảnh tại 120 điểm điều tra để theo dõi động vật hoang dã, đồng thời cập nhật ảnh vệ tinh hằng tháng nhằm phát hiện sớm các điểm mất rừng, phát sinh nương rẫy mới.

Đối với thực vật quý hiếm, các ô tiêu chuẩn được thiết lập để theo dõi những loài như Thông tre, Kiền kiền, Kim giao, Pơ mu. Các chương trình điều tra, giám sát đa dạng sinh học cũng được triển khai định kỳ, giúp bổ sung dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn.

Một giải pháp quan trọng khác là phối hợp với chính quyền cơ sở, lực lượng Công an, Quân sự trong kiểm tra, ngăn chặn và xử lý vi phạm; đồng thời tuyên truyền pháp luật về lâm nghiệp, đa dạng sinh học đến từng thôn, bản để nâng cao ý thức của người dân.

Ngoài nguồn lực trong nước, Ban Quản lý còn nhận được sự hỗ trợ từ Dự án bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2026-2030 tại Nghệ An do Tổ chức Fauna & Flora International (FFI) tài trợ. Dự án góp phần nâng cao năng lực cho lực lượng tuần tra, từ kỹ năng nghiệp vụ đến sơ cấp cứu và bảo đảm an toàn khi làm nhiệm vụ trong rừng.

tp_ban-quan-ly-xom-ban-cuom-hop-dan-ban-ve-cong-tac-nhan-khoan-bao-ve-rung-dac-dung-nam-2024.png
Ban Quản lý họp bàn với người dân về công tác giao khoán, bảo vệ rừng đặc dụng.

Chi trả dịch vụ môi trường rừng và Chương trình giảm phát thải khí nhà kính (ERPA) đang mang lại những lợi ích cụ thể nào cho người dân sống gần rừng, thưa ông?

Ông Võ Minh Sơn: Đây là những chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với cộng đồng sống gần rừng, phần lớn là đồng bào dân tộc Thái. Người dân không chỉ có thêm thu nhập từ nhận khoán bảo vệ rừng mà còn được trao quyền, gắn trách nhiệm trực tiếp với việc quản lý, gìn giữ tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.

Về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, năm 2025, Pù Huống có 40.502,7 ha rừng được chi trả từ nguồn thu của các nhà máy thủy điện Khe Bố, Nậm Pông, Nhạn Hạc, Chi Khê, với tổng kinh phí hơn 6,77 tỷ đồng. Trong đó, 23.401 ha được giao khoán cho cộng đồng, số tiền chi trả cho bên nhận khoán gần 2,85 tỷ đồng. Năm 2026, có 23 cộng đồng thôn, bản với hơn 800 hộ tiếp tục nhận khoán bảo vệ rừng từ nguồn kinh phí này.

Đối với Chương trình ERPA, năm 2025, toàn bộ 45.252,8 ha rừng tự nhiên thuộc khu bảo tồn được chi trả. Ban Quản lý đã giao khoán 6.199,8 ha cho cộng đồng, với mức 800.000 đồng/ha, tương ứng gần 4,96 tỷ đồng. Ngoài ra, 35 công trình sinh kế được hỗ trợ cho 35 cộng đồng, mỗi công trình 50 triệu đồng, tổng kinh phí 1,75 tỷ đồng.

Trong năm 2026, chương trình tiếp tục hỗ trợ 19 công trình sinh kế tại các xã Nga My, Mường Chọng, Mường Ham, Châu Hồng; đồng thời giao khoán 1.185 ha rừng cho 3 cộng đồng tại xã Mường Quàng.

Như vậy, riêng năm 2025, tổng số tiền chi trả khoán bảo vệ rừng từ hai nguồn chính sách đạt gần 7,8 tỷ đồng, chưa kể kinh phí hỗ trợ các công trình sinh kế. Nguồn lực này góp phần cải thiện thu nhập, giúp người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống và giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng để mưu sinh.

tp_image-20260107153423.jpg
Lực lượng chức năng duy trì công tác khảo sát để bảo vệ động, thực vật trong Khu bảo tồn.

Việc chi trả được thực hiện công khai, có sự giám sát của chính quyền cấp xã và Ban Quản lý. Chúng tôi mong muốn người dân không chỉ nhìn nhận rừng là tài nguyên cần bảo vệ mà còn thấy rõ những lợi ích thiết thực từ việc giữ rừng. Khi quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, cộng đồng sẽ chủ động hơn trong phát hiện, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.

Vậy làm thế nào để người dân vừa có sinh kế ổn định, vừa trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ rừng? Thời gian tới, Pù Huống có những định hướng gì để hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế cộng đồng?

Ông Võ Minh Sơn: Theo tôi, người dân chỉ thực sự gắn bó lâu dài với rừng khi họ có thể sống được nhờ rừng, có tiếng nói trong quá trình quản lý và nhìn thấy lợi ích bền vững từ việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, chúng tôi xác định giao khoán bảo vệ rừng phải gắn với trách nhiệm của cộng đồng, còn hỗ trợ sinh kế cần xuất phát từ nhu cầu thực tế và phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Trước mắt, Ban Quản lý tiếp tục duy trì, mở rộng các tổ, đội bảo vệ rừng cộng đồng. Người dân trực tiếp phối hợp với cán bộ kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng tuần tra, phát hiện và thông báo kịp thời các hành vi vi phạm. Các mô hình sinh kế được bàn bạc dân chủ, lựa chọn dựa trên điều kiện thực tế của thôn, bản. Thời gian qua, Ban Quản lý đã hoàn thành hỗ trợ một số mô hình tại các bản như Xốp Kho, Liên Minh và đang tiếp tục triển khai tại những cộng đồng còn lại.

Trong thời gian tới, chúng tôi định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa đồng bào Thái. Khi được tổ chức phù hợp, người dân có thể tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, hướng dẫn du lịch và giới thiệu văn hóa bản địa, qua đó tạo thêm nguồn thu từ việc gìn giữ cảnh quan, môi trường. Ban Quản lý đang xây dựng Đề án du lịch sinh thái theo quy định.

Một hướng đi khác là phát triển cây giống bản địa và cây dược liệu theo hướng bền vững, đúng quy định pháp luật về lâm nghiệp, chỉ thực hiện tại những khu vực được phép, không khai thác cây thuốc từ tự nhiên làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Chúng tôi cũng tiếp tục phối hợp với các tổ chức trong nước, quốc tế, trong đó có dự án do FFI tài trợ, để nâng cao năng lực cộng đồng và hỗ trợ những mô hình sinh kế phù hợp.

Bên cạnh các giải pháp trên, chúng tôi kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét nâng mức hỗ trợ mỗi công trình sinh kế từ nguồn ERPA từ 50 triệu đồng lên tối thiểu 100 triệu đồng. Đồng thời, cần duy trì cơ chế điều tiết, hỗ trợ đơn giá dịch vụ môi trường rừng đối với những lưu vực có mức chi trả thấp, giúp thu nhập của người nhận khoán tương xứng hơn với công sức bảo vệ rừng.

Khi người dân có thu nhập ổn định từ rừng, họ sẽ là lực lượng nòng cốt, bền bỉ nhất trong bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học của Pù Huống.

Vâng, xin cảm ơn ông!

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống giữ vị trí chiến lược khi là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An. Với diện tích quản lý hơn 46.400 ha trải dài qua 8 xã miền núi, địa hình chia cắt mạnh cùng đỉnh Pù Hon cao 1.447 m đã tạo nên nền tảng sinh cảnh trù phú. Nơi đây hiện lưu giữ nguồn gen quý giá với 1.787 loài thực vật và 1.047 loài động vật, bao gồm nhiều cá thể nguy cấp như Pơ mu, Sa mộc, Sao la hay gà tiền mặt vàng. Bên cạnh giá trị bảo tồn sinh học, hơn 40.000 ha rừng đặc dụng tại Pù Huống đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn thiết yếu cho hệ thống thủy điện Khe Bố, Nậm Pông, Nhạn Hạc và Chi Khê. Nguồn tài nguyên rừng này trực tiếp điều tiết lưu vực sông Hiếu, sông Lam, giảm thiểu thiên tai và bảo đảm nguồn nước sinh hoạt lẫn sản xuất cho cư dân hạ du. Tầm ảnh hưởng liên vùng khẳng định việc giữ vững diện tích rừng tự nhiên là mắt xích sống còn đối với an ninh sinh thái toàn tỉnh. Dù vậy, áp lực xâm hại tài nguyên vẫn thường trực trước thực trạng đặt bẫy thú hoang, khai thác lâm sản và đào vàng trái phép ở các khu vực giáp ranh. Ban Quản lý xác định công tác tuần tra chuyên trách phải gắn chặt với chính quyền địa phương cùng cộng đồng cư dân bản địa. Chiến lược bảo vệ bền vững chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi bài toán sinh kế vùng đệm được giải quyết căn cơ, tạo điều kiện cho người dân gắn bó và sống được nhờ rừng.
amung