Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã đặt nguồn lực trí tuệ của cộng đồng người Việt toàn cầu ở vị trí ngày càng quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước.
Trong bối cảnh AI, bán dẫn và các công nghệ chiến lược phát triển nhanh, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết, theo Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy “thu hút chuyên gia về nước” sang xây dựng cơ chế để huy động trí tuệ Việt Nam toàn cầu, kể cả khi chuyên gia không trở về làm việc lâu dài. Quan trọng nhất là tạo ra những bài toán đủ lớn, cơ chế đủ mở và môi trường đủ hấp dẫn để tri thức được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và năng lực nội sinh của Việt Nam.
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải đã có những chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân về nội dung này.
Nghị quyết 23 mở không gian mới để huy động trí tuệ Việt toàn cầu
Phóng viên: Trong bối cảnh AI, bán dẫn và các công nghệ mới đang phát triển với tốc độ rất nhanh, Việt Nam cần những cơ chế đột phá nào để thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài tham gia các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước, kể cả khi họ không trở về làm việc lâu dài?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Kỷ nguyên số cho phép thay đổi một giả định cũ: muốn cống hiến thì phải hồi hương. Trong trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay công nghệ lượng tử, giá trị lớn nhất một chuyên gia mang lại nằm ở ý tưởng, thuật toán, thiết kế và mạng lưới quan hệ, những thứ hoàn toàn có thể chuyển giao xuyên biên giới. Vì vậy, tôi ủng hộ chuyển tư duy từ “thu hút chuyên gia về nước” sang “huy động trí tuệ Việt Nam toàn cầu”. Cái cần chảy về là tri thức, không nhất thiết là hộ khẩu.
Từ đó, tôi đề xuất năm cơ chế đột phá.
Một là “Ngân hàng bài toán quốc gia”. Công khai trên một nền tảng số duy nhất toàn bộ 20 bài toán lớn, 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược và nhu cầu công nghệ của các bộ, địa phương, doanh nghiệp; mỗi bài toán ghi rõ mục tiêu, ngân sách, chủ đầu tư, tiêu chí nghiệm thu và thời hạn, để chuyên gia ở bất kỳ đâu cũng có thể đăng ký tham gia. Không có “chợ” thì không thể có giao dịch.
Hai là chức danh “chuyên gia không thường trú” và cơ chế đồng chủ nhiệm: cho phép người Việt Nam ở nước ngoài đồng chủ trì nhiệm vụ khoa học dùng ngân sách nhà nước mà không đòi hỏi cư trú thường xuyên hay biên chế. Nghị định 249/2025/NĐ-CP đã mở rất mạnh: thị thực nhiều lần, thẻ tạm trú theo thời gian làm việc, tiếp nhận vào công chức, viên chức và bổ nhiệm lãnh đạo mà không nhất thiết đủ điều kiện về độ tuổi, quy hoạch, lý luận chính trị. Việc còn lại là hướng dẫn và dám sử dụng.
Ba là cơ chế tài chính theo mốc kỹ thuật: khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, thanh toán theo mốc đã cam kết thay vì theo chứng từ từng khoản, chấp nhận đơn giá tư vấn quốc tế, cho phép chi trả bằng ngoại tệ. Báo cáo sơ kết đã chỉ rõ định mức hiện hành không phản ánh chi phí thực tế của nhân công chất xám. Không thể mời chuyên gia hàng đầu thế giới rồi thanh toán theo định mức của một đề tài cấp cơ sở.
Bốn là mô hình “phòng thí nghiệm song sinh” và “chuyến tàu công nghệ”: một nhóm ở nước ngoài, một nhóm trong nước, cùng một đề bài, cùng một hệ dữ liệu, họp trực tuyến hằng tuần và luân phiên trao đổi trực tiếp 4–8 tuần mỗi năm, theo quy trình năm bước từ tiếp nhận nhu cầu đến đánh giá, nhân rộng. Đây là cách nhanh nhất để đưa tri thức về mà không ai phải từ bỏ sự nghiệp đang có.
Năm là “một cửa quốc gia” cho chuyên gia. Một đầu mối duy nhất xử lý thị thực, giấy phép lao động, thuế, bảo hiểm, chuyển tiền, nhập khẩu thiết bị và mẫu vật nghiên cứu, có cam kết thời hạn. Đi kèm là cơ sở dữ liệu chuyên gia, trí thức người Việt toàn cầu, liên thông với 5 mạng lưới đổi mới sáng tạo hiện có và khoảng 50 hội chuyên gia, trí thức tại các nước.
Năm cơ chế ấy có chung một triết lý: thay vì hỏi “khi nào anh về?”, hãy hỏi “anh muốn giải bài toán nào của đất nước?”. Câu hỏi thứ hai dễ trả lời hơn rất nhiều và hiệu quả hơn rất nhiều.
Phóng viên: Thực tế cho thấy, để thu hút nhân tài khoa học-công nghệ, đãi ngộ tài chính chỉ là một phần; điều quan trọng còn là môi trường nghiên cứu, quyền tự chủ, nguồn lực và những bài toán đủ lớn để chuyên gia phát huy năng lực. Theo đại biểu, Việt Nam cần thay đổi chính sách như thế nào để tạo được một môi trường đủ hấp dẫn đối với những chuyên gia giỏi nhất?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Nếu chỉ cạnh tranh bằng tiền, Việt Nam sẽ không bao giờ thắng, chúng ta không thể trả cao hơn các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Nhưng chúng ta có thể thắng ở một thứ mà tiền không mua được: cơ hội làm điều lớn lao cho chính đất nước mình và được ghi tên vào việc đó.
Để biến lợi thế ấy thành hiện thực, chính sách cần 4 chuyển dịch.
Thứ nhất, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang giao nhiệm vụ lớn và trả thù lao theo kết quả. Báo cáo sơ kết Nghị quyết 57 đã kết luận: việc cần làm hiện nay là “chuyển từ ưu đãi đầu vào sang giao nhiệm vụ lớn, bảo đảm điều kiện nghiên cứu, trả thù lao theo sản phẩm, kết quả và có cơ chế giữ chân nhân tài”. Một gói lương hậu hĩnh kèm một đề tài nhỏ là cách nhanh nhất để mất người giỏi; một bài toán tầm quốc gia kèm quyền quyết định thực chất sẽ giữ chân họ.
Thứ hai, trao quyền tự chủ thật, không phải khẩu hiệu, mà là bốn quyền cụ thể: chọn hướng nghiên cứu; tuyển và trả lương cho cộng sự; chi tiêu theo khoán đến sản phẩm cuối cùng; sở hữu và thương mại hóa kết quả. Đi kèm là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm khi nghiên cứu thất bại ngay tình. Hiện chưa có khung pháp lý rõ để một đề tài được phép thất bại hợp lý, khiến cán bộ sợ trách nhiệm. Khoa học không được phép sai thì cũng không thể đúng ở tầm cao.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng nghiên cứu tới ngưỡng. Cả nước hiện có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, trong đó 04 phòng cần điều chỉnh toàn diện; hạ tầng nhìn chung còn phân tán, thiết bị cũ. Không ai rời một phòng thí nghiệm hiện đại ở nước ngoài để về làm việc với thiết bị lạc hậu. Ban Chỉ đạo Trung ương đã yêu cầu hình thành tối thiểu 09 hạ tầng dùng chung và 03 không gian thử nghiệm thực tế. Phải làm bằng được, theo hướng đầu tư tập trung, mở cửa cho doanh nghiệp thuê sử dụng.
Thứ tư, hoàn thiện “hệ sinh thái sống”. Báo cáo sơ kết chỉ rõ tại các khu công nghệ cao, hạ tầng xã hội, nhà ở, dịch vụ và tiện ích cho chuyên gia chưa đồng bộ với hạ tầng nghiên cứu, sản xuất. Một chuyên gia 45 tuổi không chỉ hỏi về phòng thí nghiệm; họ hỏi con mình học ở đâu, cha mẹ mình khám bệnh thế nào. Nhà ở chuyên gia, trường quốc tế, y tế chất lượng cao, thị thực cho thân nhân, đó cũng là chính sách khoa học.
Cuối cùng là văn hóa: đánh giá bằng phản biện độc lập và liêm chính học thuật, chấm dứt hành chính hóa nhà khoa học, tôn trọng quyền được tranh luận. Tổng Bí thư đã yêu cầu “khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, tinh thần ấy cần áp dụng đầy đủ cho đội ngũ làm khoa học.
Theo tôi, người giỏi cần 3 thứ: một bài toán xứng đáng, một môi trường không cản trở, và một sự tôn trọng thật lòng. Tiền là điều kiện cần. Ba thứ đó mới là điều kiện đủ.
Phóng viên: Nghị quyết 23 nhấn mạnh việc tăng cường chuyển giao tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về trong nước. Theo đại biểu, làm thế nào để biến nguồn lực trí thức và mạng lưới toàn cầu của kiều bào thành năng lực công nghệ thực sự của Việt Nam, giúp chúng ta từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ thay vì chỉ tiếp nhận, chuyển giao?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Đây là câu hỏi cốt lõi của cả chiến lược. Bởi tri thức không chảy theo đường ống, nó chỉ chảy qua con người. Chuyển giao công nghệ chỉ trở thành năng lực quốc gia khi có người trong nước đủ trình độ để tiếp nhận, có nơi để thực hành và có quyền sở hữu kết quả.
Người giỏi cần 3 thứ: một bài toán xứng đáng, một môi trường không cản trở, và một sự tôn trọng thật lòng. Tiền là điều kiện cần. Ba thứ đó mới là điều kiện đủ.
Tiến sĩ Trần Văn Khải
Thực tế đang cảnh báo chúng ta. Giai đoạn 2021–2025, chúng ta đã ký 100 cam kết về khoa học công nghệ; riêng năm 2025 ký 45 và sáu tháng đầu 2026 ký thêm 70. Nhưng Báo cáo sơ kết nhận định thẳng thắn: nhiệm vụ mua, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến “chưa ghi nhận thương vụ hoàn tất”; liên kết và chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI “chưa tạo chuyển biến rõ nét”. Ký nhiều mà nhận được ít, đó là căn bệnh phải chữa.
Tôi đề xuất 5 giải pháp.
Một là nguyên tắc “đội hình kép”. Mỗi chuyên gia kiều bào không đến một mình mà dẫn dắt một nhóm nghiên cứu mạnh trong nước, với chỉ tiêu rõ ràng: bao nhiêu kỹ sư, nghiên cứu sinh được đào tạo đạt chuẩn; bao nhiêu quy trình, thiết kế, mã nguồn được bàn giao; bao nhiêu sáng chế đồng sở hữu. Không có đội hình tiếp nhận thì chuyên gia rời đi, tri thức rời theo.
Hai là đưa điều khoản chuyển giao bắt buộc vào mọi hợp đồng: không chỉ giao sản phẩm, mà phải giao tài liệu thiết kế, bí quyết công nghệ, quy trình kiểm thử, quyền sửa đổi và chương trình đào tạo. Với dự án FDI và hợp tác lớn, cần đo bằng chỉ số cụ thể: bao nhiêu kỹ sư Việt Nam được nâng cấp trình độ, bao nhiêu cấu phần do người Việt thiết kế, tỷ lệ nội địa hóa theo giá trị gia tăng thực chất chứ không phải giá trị lắp ráp.
Ba là gắn chuyển giao với thị trường trong nước. Công nghệ chỉ được làm chủ khi được dùng và được bán; cơ chế Nhà nước là khách hàng đầu tiên chính là đòn bẩy. Thành phố Hồ Chí Minh thí điểm thương mại hóa 54 sản phẩm công nghệ với hơn 500 tỷ đồng, vốn ngoài ngân sách chiếm trên 50%, mô hình cần nhân rộng.
Bốn là biến mạng lưới thành hạ tầng. Hiện có gần 2.000 thành viên trong các mạng lưới chuyên gia, 5 mạng lưới về công nghệ chiến lược và khoảng 50 hội trí thức tại các nước. Cần một cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông với ngân hàng bài toán, để kết nối không còn phụ thuộc vào quan hệ cá nhân hay một vài hội nghị mỗi năm.
Năm là kiên trì xây dựng năng lực nội sinh. Viettel đã thiết kế thành công chip 5G DFE trên công nghệ 28nm, xử lý 1.000 tỷ phép tính mỗi giây, độ phức tạp cao nhất khu vực Đông Nam Á. Bài học là khi có bài toán lớn, có đầu tư dài hạn và có đội ngũ được giao trọng trách, người Việt hoàn toàn đủ sức đi từ tiếp nhận đến sáng tạo.
Tổng Bí thư đã yêu cầu hợp tác quốc tế phải “chuyển từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước”. Đó chính là câu trả lời ngắn gọn nhất.
Tạo “bãi đáp” bằng những bài toán lớn và môi trường nghiên cứu thực chất
Phóng viên: Việt Nam đang đầu tư mạnh cho AI, bán dẫn, công nghệ sinh học và các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Theo đại biểu, làm thế nào để những khoản đầu tư này thực sự trở thành “bãi đáp” đủ hấp dẫn, tạo ra những bài toán lớn để thu hút chuyên gia người Việt ở nước ngoài trở về hoặc tham gia từ xa?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: “Bãi đáp” hấp dẫn không phải là tấm thảm đỏ ở sân bay. Đó là một đường băng có đèn, có hoa tiêu và có điểm đến rõ ràng. Theo tôi, một bãi đáp đúng nghĩa cần 4 thứ “thật”.
Bài toán thật. Chúng ta đã có 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm và 20 bài toán lớn giao cho 10 bộ, cơ quan chủ trì. Đây là tài sản quý. Nhưng phải công khai hóa và quốc tế hóa: mỗi bài toán có hồ sơ kỹ thuật, ngân sách, tiêu chí nghiệm thu, và cho phép chuyên gia người Việt ở nước ngoài ứng tuyển vị trí Tổng công trình sư. Một người từng dẫn dắt dự án vi mạch ở nước ngoài sẽ không rung động vì lời mời chung chung, nhưng sẽ rung động trước một đề bài cụ thể: thiết kế bộ xử lý cho hạ tầng viễn thông thế hệ mới của Việt Nam, hay xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt có chủ quyền.
Tiền thật. Ngân sách cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã đạt 3% tổng chi ngân sách nhà nước, mức cao nhất trong 10 năm gần đây. Hà Nội bố trí 9.090 tỷ đồng năm 2026, tương đương 4% chi ngân sách. Thành phố Hồ Chí Minh lập Quỹ đầu tư mạo hiểm vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng, hướng tới 5.000 tỷ đồng vào năm 2030. Nhưng khoảng cách giữa số được bố trí và số thực giải ngân còn lớn. Với nhà khoa học, một đồng giải ngân đúng hạn có giá trị hơn mười đồng nằm trên giấy.
Hạ tầng thật. Không thể làm bán dẫn nếu không có phòng sạch; không thể làm trí tuệ nhân tạo nếu không có hạ tầng tính toán và dữ liệu. Đã có những tín hiệu tốt: Đà Nẵng thu hút dự án phòng thí nghiệm kết hợp sản xuất công nghệ đóng gói tiên tiến vi mạch 1.800 tỷ đồng; NVIDIA lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển trí tuệ nhân tạo cùng Trung tâm Dữ liệu AI tại Việt Nam; Qualcomm mở trung tâm nghiên cứu và phát triển. Nhiệm vụ tiếp theo là hình thành mạng lưới phòng thí nghiệm dùng chung, mở cửa cho doanh nghiệp thuê sử dụng.
Khách hàng thật. Đây là điểm nhiều người bỏ qua nhưng lại có tính quyết định. Nhà khoa học ứng dụng cần biết ai sẽ dùng kết quả của mình. Cơ chế Nhà nước là khách hàng đầu tiên, mua lô sản phẩm đầu tiên, cùng thị trường trên 100 triệu dân và nền công nghiệp công nghệ số đang xuất khẩu phần cứng, điện tử tới 84,31 tỷ USD chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, là bảo chứng rất mạnh.
Ngoài 4 thứ “thật” đó, cần thêm một điều: tốc độ. Cạnh tranh công nghệ toàn cầu tính bằng quý, không tính bằng nhiệm kỳ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu với từng công nghệ chiến lược phải xác định rõ mục tiêu theo các mốc 1, 3, 5 và 10 năm về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành, khả năng xuất khẩu. Khi nhìn thấy lộ trình rõ ràng như vậy, chuyên gia sẽ tin rằng thời gian mình bỏ ra không bị lãng phí.
Tôi cho rằng, bãi đáp tốt nhất là nơi người ta hạ cánh và lập tức có việc để làm.
Phóng viên: Theo đại biểu, làm thế nào để đo được hiệu quả của chính sách thu hút chất xám kiều bào: số chuyên gia trở về, số dự án hợp tác, hay quan trọng hơn là số bằng sáng chế, công nghệ được làm chủ và sản phẩm đổi mới sáng tạo được tạo ra tại Việt Nam?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Chúng ta không đếm số người về, hãy đếm số bài toán được giải.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một thước đo rất nghiêm khắc: nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi “có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được”; không dừng ở việc ban hành văn bản, xây dựng kế hoạch hay tổ chức hội nghị. Nguyên tắc ấy phải áp dụng cho cả chính sách thu hút chất xám kiều bào.
Tôi đề xuất một bộ chỉ số 3 lớp.
Lớp thứ nhất là chỉ số nỗ lực: Gồm số chuyên gia tham gia nhiệm vụ, số hợp đồng đặt hàng đã ký, số thỏa thuận hợp tác. Những chỉ số này cần thiết nhưng tuyệt đối không được coi là thành tích. Bài học đã có ngay trước mắt: giai đoạn 2021–2025 ký 100 cam kết, năm 2025 ký 45, sáu tháng đầu 2026 ký thêm 70; nhưng Báo cáo sơ kết đánh giá “tỷ lệ thỏa thuận chuyển thành dự án, vốn, công nghệ, nhân lực và sản phẩm chưa được lượng hóa đầy đủ”. Đếm chữ ký là cách dễ nhất để tự ru ngủ mình.
Lớp thứ hai là chỉ số đầu ra. Đây mới là phần cốt lõi gồm số sáng chế được cấp tại Việt Nam và tại các thị trường lớn có đồng tác giả là chuyên gia kiều bào; số công nghệ được làm chủ theo đúng các mốc 1-3-5-10 năm mà Tổng Bí thư yêu cầu; số hợp đồng chuyển giao và giá trị giao dịch; số nguyên mẫu, sản phẩm đạt tiêu chuẩn và được kiểm định độc lập; và một chỉ số ít được nhắc nhưng rất quan trọng, số nhân lực trong nước được nâng cấp trình độ qua chính các dự án đó.
Lớp thứ ba là chỉ số tác động: Gồm doanh thu và xuất khẩu từ sản phẩm công nghệ; tỷ lệ nội địa hóa tính theo giá trị gia tăng thực chất, bao gồm cả phần mềm và dịch vụ số; đóng góp vào năng suất các nhân tố tổng hợp; số doanh nghiệp khởi nguồn được hình thành; mức độ giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu ở những khâu then chốt.
Về cách tổ chức đo lường, tôi đề nghị 3 việc: Chúng ta cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia, trí thức người Việt toàn cầu, kết nối với Hệ thống theo dõi Nghị quyết 57 để mọi bài toán đều truy vết được đến sản phẩm cuối cùng; công bố công khai kết quả hằng năm, có so sánh giữa các bộ, ngành, địa phương, minh bạch là động lực cải cách mạnh nhất; và gắn kết quả này vào đánh giá cán bộ, người đứng đầu.
Và tôi muốn nhấn mạnh, hiệu quả chính sách thu hút chất xám không đo bằng việc chuyên gia đang ở đâu, mà đo bằng việc năng lực công nghệ của Việt Nam đã dịch chuyển được bao xa. Một giáo sư sống ở nước ngoài nhưng mỗi năm đào tạo 10 tiến sĩ Việt Nam và để lại 3 bằng sáng chế đứng tên Việt Nam thì đóng góp lớn hơn nhiều một hồ sơ hồi hương đẹp mà không tạo ra sản phẩm nào.
Theo tôi, thước đo cuối cùng của mọi chính sách là sản phẩm. Không có sản phẩm thì mọi con số còn lại chỉ là hoạt động.
Từ kết nối trí thức đến làm chủ công nghệ
Phóng viên: Trong bối cảnh khoa học, công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, theo ông/bà, “ngoại giao khoa học và công nghệ” cần được triển khai như thế nào để thực sự phục vụ mục tiêu nâng cao năng lực công nghệ và vị thế của Việt Nam?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết ngày 1/7/2026 đã định vị rất rõ: “Hợp tác quốc tế phải chuyển từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước”. Theo tôi, đó chính là định nghĩa ngắn gọn nhất về ngoại giao khoa học và công nghệ trong giai đoạn mới.
Để triển khai thực chất, cần làm 6 việc.
Thứ nhất, biết mình cần gì trước khi đi đàm phán. Báo cáo sơ kết chỉ rõ một hạn chế cốt lõi: nhu cầu công nghệ trong nước chưa được xác định cụ thể, năng lực tiếp nhận và nguồn lực đối ứng còn hạn chế. Phải có một danh mục nhu cầu công nghệ quốc gia, ta thiếu gì, cần mua gì, cần học gì, ai tiếp nhận, làm cơ sở cho mọi cuộc đàm phán. Đi đàm phán mà chưa rõ mình cần gì thì ký bao nhiêu văn bản cũng vậy.
Thứ hai, chuyển từ ký kết sang thực thi. Mỗi cam kết phải thành dự án cụ thể với chủ đầu tư, vốn đối ứng, nhân lực, sản phẩm và mốc thời gian; phải có đầu mối chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng. Đây chính là khâu còn thiếu.
Thứ ba, xây dựng lực lượng ngoại giao khoa học chuyên nghiệp: bố trí đại diện, tùy viên khoa học công nghệ tại các địa bàn trọng điểm với nhiệm vụ rõ ràng là nhận diện công nghệ, kết nối chuyên gia, xúc tiến chuyển giao. Nghị định 258/2026/NĐ-CP về cơ chế đặc thù thu hút nhà khoa học, chuyên gia hội nhập quốc tế đã tạo cơ sở pháp lý cho việc này.
Thứ tư, chủ động tham gia luật chơi toàn cầu. Tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, bán dẫn; áp dụng nguyên tắc chấp nhận tương đương đối với tiêu chuẩn ISO, IEC, ITU; ký các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm với những thị trường lớn để giảm chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu. Quốc gia nào tham gia viết luật chơi, quốc gia đó không bị động.
Thứ năm, coi kiều bào là lực lượng ngoại giao khoa học tự nhiên. Hơn 6,5 triệu đồng bào tại trên 130 quốc gia, khoảng 650.000 người có trình độ đại học trở lên, đó là mạng lưới không ngân sách nào mua được. Nghị quyết 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “cầu nối giữa Việt Nam với thế giới”. Cần thể chế hóa vai trò cầu nối ấy bằng cơ chế tham vấn chính sách, giới thiệu đối tác, thẩm định công nghệ và giám định độc lập.
Thứ sáu, giữ vững nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Ngoại giao công nghệ đi liền với an ninh dữ liệu, chủ quyền số, kiểm soát công nghệ nhạy cảm. Tinh thần chỉ đạo rất rõ: không đánh đổi an ninh, an toàn để lấy phát triển, nhưng cũng không vì lo ngại rủi ro mà làm chậm đổi mới sáng tạo.
Ngoại giao khoa học và công nghệ không đo bằng số biên bản ghi nhớ. Nó đo bằng số công nghệ chúng ta thực sự cầm được trong tay.
Phóng viên: Trong hành trình hướng tới năm 2045, theo ông, Việt Nam sẽ làm gì để thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ giữ gìn bản sắc, mà trở thành một lực lượng tham gia trực tiếp vào đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và phát triển đất nước?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hôm nay rất khác thế hệ cha anh. Nhiều em sinh ra và lớn lên tại nước sở tại, tiếng Việt có thể không phải ngôn ngữ mạnh nhất, ký ức về quê hương không phải ký ức trực tiếp. Nghị quyết 23-NQ/TW đã nhìn thấy điều đó khi yêu cầu giữ gìn, lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng Việt “đến thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau”, đồng thời xây dựng mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững, trong đó có thế hệ trẻ người Việt toàn cầu.
Thế hệ trẻ sẽ không trở về vì quá khứ. Họ sẽ đến vì tương lai. Việc của chúng ta là xây dựng tương lai đó cho kịp.
Tiến sĩ Trần Văn Khải
Tôi cho rằng phải làm đồng thời hai việc: giữ gốc và mở đường.
Giữ gốc là đầu tư nghiêm túc cho tiếng Việt và văn hóa Việt như một hạ tầng mềm: học liệu số miễn phí, lớp học trực tuyến chất lượng cao, ứng dụng học tiếng Việt tích hợp trí tuệ nhân tạo, công nhận và quy đổi chứng chỉ tiếng Việt. Nhưng xin nói thật: bản sắc chỉ bền vững khi gắn với niềm tự hào. Một bạn trẻ gốc Việt ở châu Âu sẽ tự hào hơn rất nhiều khi biết đồng bào mình thiết kế được chip 5G, làm chủ mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, đưa được sản phẩm công nghệ ra thế giới. Thành tựu khoa học công nghệ chính là chất liệu mới của lòng tự hào dân tộc.
Mở đường là trao cho các em cơ hội tham gia sớm và tham gia thật.
Một là các chương trình “cửa vào”: thực tập nghiên cứu mùa hè tại các phòng thí nghiệm, viện, trường và doanh nghiệp công nghệ Việt Nam dành riêng cho sinh viên gốc Việt; trại hè khoa học; các cuộc thi lập trình, hackathon, cuộc thi khởi nghiệp mang tính toàn cầu của người Việt. Ấn tượng đầu tiên khi 20 tuổi sẽ quyết định lựa chọn khi 35 tuổi.
Hai là học bổng đồng hướng dẫn: nghiên cứu sinh gốc Việt ở nước ngoài làm đề tài gắn với bài toán Việt Nam, có hai người hướng dẫn, một trong nước, một nước ngoài. Đây là cách ít tốn kém nhất để tạo ra một thế hệ nhà khoa học vừa đạt chuẩn quốc tế vừa hiểu bài toán Việt Nam.
Ba là hoàn thiện khung pháp lý để việc “quay về” không tốn kém: chính sách quốc tịch, giấy tờ tùy thân, quyền sở hữu nhà ở, thị thực dài hạn, công nhận văn bằng và chứng chỉ hành nghề.
Bốn là đưa người trẻ vào 5 mạng lưới đổi mới sáng tạo hiện có về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, an ninh mạng, hàng không vũ trụ, với cơ chế cố vấn từ các chuyên gia đi trước.
Đến năm 2045, mục tiêu của chúng ta không nên là “kêu gọi các em trở về”. Mục tiêu là làm sao để một kỹ sư trẻ gốc Việt ở bất cứ đâu trên thế giới, khi tìm nơi thực hiện hoài bão lớn nhất đời mình, sẽ thấy Việt Nam nằm trong danh sách lựa chọn hàng đầu, không vì hoài niệm, mà vì cơ hội.
Thế hệ trẻ sẽ không trở về vì quá khứ. Họ sẽ đến vì tương lai. Việc của chúng ta là xây dựng tương lai đó cho kịp.
Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Văn Khải!
THIÊN LAM