Với khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, Việt Nam đang sở hữu nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành gỗ, gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình. Tuy nhiên, phần lớn gỗ rừng trồng vẫn được sử dụng để sản xuất dăm gỗ và viên gỗ nén. Chuyển từ khai thác giá trị thấp sang phát triển gỗ lớn, chế biến sâu và nâng giá trị toàn chuỗi đang là yêu cầu đặt ra đối với rừng keo Việt Nam.
Ngày 8/10, tại Hà Nội, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFOREST), Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia (ACIAR), Australian Aid và Liên đoàn các Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (IUFRO) tổ chức Diễn đàn kết nối nghiên cứu, công nghiệp và đổi mới sáng tạo trong chuỗi giá trị cây keo bền vững.
Từ phủ xanh đất trống đến phát triển rừng gỗ lớn
Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, trong tổng số khoảng 3,5 triệu ha rừng keo trên toàn thế giới. Đây là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành gỗ, đồng thời gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết, Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh rừng keo từ những năm 1990. Việc chọn lọc và đưa keo lai vào sản xuất đã tạo bước phát triển mới, góp phần hình thành vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến gỗ.
Từ năm 2010 đến nay, tư duy phát triển rừng từng bước chuyển từ trồng rừng để phủ xanh đất trống sang phát triển rừng gỗ lớn, gắn với nhiều mục đích sử dụng và nâng cao giá trị.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị, những kết quả đạt được trong phát triển rừng trồng keo là hành trình đáng tự hào của nhiều thế hệ nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người trồng rừng. Lĩnh vực lâm nghiệp thời gian qua được đầu tư nhiều cho nghiên cứu, với các đề tài, chương trình có khả năng lan tỏa vào thực tiễn sản xuất.
Để phát triển rừng keo bền vững, cần thiết kế cơ chế hỗ trợ phù hợp để các hộ trồng rừng nhỏ tham gia quản lý rừng bền vững; thúc đẩy liên kết dài hạn, minh bạch giữa nhà máy và vùng nguyên liệu. Đồng thời, cần có các giải pháp về tín dụng, bảo hiểm rừng trồng và cơ chế khuyến khích đầu tư cho gỗ lớn, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị toàn chuỗi.
Năm 2025, xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt khoảng 17,2 tỷ USD. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn gỗ rừng trồng vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên gỗ nén, cho thấy dư địa nâng cao giá trị từ nguồn nguyên liệu này còn lớn.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, giá trị cao nhất được tạo ra ở cuối chuỗi. Vì vậy, ngành gỗ cần chuyển mạnh hơn từ dăm gỗ sang các sản phẩm như veneer, plywood, MDF, gỗ ghép, cấu kiện và đồ nội thất, những sản phẩm có hàm lượng thiết kế và giá trị gia tăng cao hơn.
Để mỗi mét khối gỗ tạo ra nhiều giá trị hơn, cần sự tham gia đồng bộ của khoa học, sản xuất, tài chính, thiết kế, thị trường, các yêu cầu về ESG và chính sách. Trong đó, tín dụng phù hợp với chu kỳ dài của cây trồng, cơ chế bảo vệ và bảo hiểm rừng, liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với người trồng rừng, chứng chỉ rừng và tín chỉ carbon là những yếu tố quan trọng.
VIFOREST đề xuất từng bước xây dựng thương hiệu “Vietnamese Acacia”, đưa cây keo trở thành vật liệu được thị trường quốc tế nhận biết và lựa chọn trên cơ sở nguồn gốc rõ ràng, khả năng tái tạo, quản lý có trách nhiệm, sản xuất bền vững và thiết kế phù hợp.
Ông Nguyễn Quốc Khanh cho rằng, quá trình phát triển cây keo trong hơn ba thập kỷ qua không đơn thuần là câu chuyện của ngành lâm nghiệp trồng rừng, mà còn là quá trình chuyển đổi ở khu vực nông thôn, với sự tham gia của các hộ trồng rừng, doanh nghiệp, cơ sở chế biến và các chuỗi sản phẩm xuất khẩu.
Đầu tư nghiên cứu, mở hướng phát triển bền vững
Bên cạnh yêu cầu nâng cao giá trị, rừng keo cũng đang đứng trước những thách thức về giống, thiên tai và sức khỏe rừng.
Theo báo cáo của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, nền tảng di truyền hẹp của rừng trồng keo đang là một trong những thách thức đối với công tác chọn giống. Rủi ro bão, lũ tác động trực tiếp đến sản xuất và hiệu quả kinh tế. Trong khi đó, việc kéo dài chu kỳ rừng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý đất, sức khỏe rừng và phòng trừ sâu bệnh.
Trên cơ sở các thảo luận tại diễn đàn, các nhóm ưu tiên nghiên cứu đến năm 2035 được xác định gồm chọn giống đa tính trạng, có khả năng chống chịu; phân hóa tính trạng rừng theo điều kiện lập địa và rủi ro; nâng cao sức khỏe rừng và an toàn sinh học; phát triển chế biến sâu, vật liệu mới và kinh tế tuần hoàn; đồng thời nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, chính sách và carbon.
Trong hơn ba thập kỷ qua, ACIAR đã đầu tư khoảng 28 triệu AUD cho các nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp tại Việt Nam, triển khai 16 dự án cùng các khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và đào tạo. Các chương trình trải rộng từ nguồn gen, cải thiện giống cây, lâm sinh, quản lý đất đến chế biến, gia tăng giá trị và gần đây là chính sách.
Theo ông Nicholas Hogarth, những kết quả của ngành rừng trồng Việt Nam là đóng góp của nhiều tổ chức và đối tác. Đây cũng là cơ sở để các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người trồng rừng tiếp tục phối hợp nghiên cứu, đổi mới công nghệ, xây dựng cơ chế tài chính và phát triển thị trường, qua đó nâng giá trị của rừng keo và củng cố nền tảng cho ngành gỗ Việt Nam.
THANH TRÀ