Bỏ qua điều hướng
•

Nâng tầm thương hiệu gạo Việt

Nâng tầm thương hiệu gạo Việt
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Giá gạo có thể bật tăng chỉ vì thông tin một con tàu lớn sắp cập cảng, nhưng doanh nghiệp Việt đôi khi lại tự hạ giá để giành khách hàng. Nông dân và doanh nghiệp cũng có lúc “bẻ kèo” khi thị trường đổi chiều. Chia sẻ với PV Tiền Phong, ông Trần Sơn Hà, Tổng Giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc...

Doanh nghiệp Việt tự hạ giá, khách nước ngoài hưởng lợi

“Kinh doanh lúa gạo lúc biến động chẳng khác nào vàng và chứng khoán”, ông Trần Sơn Hà ví von khi mở đầu câu chuyện với PV Tiền Phong.

Gắn bó với ngành lương thực từ năm 1999, có nhiều năm lăn lộn tại các vùng nguyên liệu từ miền Trung đến Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ông Hà đúc rút một điểm yếu cố hữu vẫn tồn tại với ngành lúa gạo Việt Nam: Dù nằm trong nhóm xuất khẩu dẫn đầu thế giới, nhưng các mắt xích trong chuỗi sản xuất vẫn chưa thực sự gắn kết.

Từ cánh đồng, nhà máy, kho chứa đến cảng xuất khẩu, chỉ cần một khâu thiếu đồng bộ, chi phí lập tức tăng lên. Đáng lo hơn, sự đứt gãy không chỉ nằm ở hạ tầng mà còn xuất phát từ cách các bên ứng xử với nhau khi thị trường biến động.

“Khi giá lúa tăng, có trường hợp nông dân không giao hàng theo thỏa thuận mà bán cho đơn vị trả giá cao hơn. Ngược lại, lúc giá giảm hoặc đầu ra khó khăn, một số doanh nghiệp trì hoãn, thậm chí từ chối thu mua như đã cam kết”, ông Hà chia sẻ.

Sự thiếu liên kết còn diễn ra ngay giữa các doanh nghiệp xuất khẩu. Có thời điểm, doanh nghiệp trong nước tranh mua nguyên liệu, nhưng khi ra thị trường quốc tế lại tự hạ giá để giành khách hàng; làm suy yếu lẫn nhau. Theo ông Hà, dù chỉ có một bộ phận nhỏ doanh nghiệp như thế, song điều này khiến người mua nước ngoài được hưởng lợi, còn doanh nghiệp và người trồng lúa trong nước cùng chịu thiệt.

“Trong khi đó, các doanh nghiệp Thái Lan khi xuất khẩu thường đưa ra mức giá tương đối đồng đều để bán được giá tốt hơn. Doanh nghiệp Trung Quốc có thể khảo sát nhiều nhà cung cấp, nhưng giá thu mua đưa ra thường không chênh lệch lớn, nhờ đó giữ được lợi thế của bên mua”, ông Hà nói. Ông cho rằng, việc các DN Việt cạnh tranh là cần thiết, nhưng phải là cạnh tranh lành mạnh trên nền tảng cùng bảo vệ lợi ích chung của ngành hàng. Một doanh nghiệp vi phạm hợp đồng không chỉ mất khách hàng mà còn có thể ảnh hưởng đến uy tín của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Lấy người nông dân làm đối tác

Năm 2026, thị trường lúa gạo trở nên khó đoán hơn bao giờ hết. Philippines - khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam có thời gian điều chỉnh chính sách và tạm dừng nhập khẩu. Indonesia từng tăng mua mạnh, sau đó chuyển sang thúc đẩy tự chủ nguồn cung. Xung đột tại Trung Đông làm tăng chi phí nhiên liệu, vận tải và gây trở ngại cho hoạt động giao thương tại một số thị trường truyền thống.

a2.jpg
Gạo Việt muốn vươn xa, phải thoát khỏi cảnh “mạnh ai nấy làm”, lấy liên kết và uy tín làm nền tảng. Ảnh: XP

“Giữa những biến động đó, điều khiến tôi trăn trở nhất không chỉ là doanh nghiệp bán được bao nhiêu gạo, mà là làm thế nào để người trồng lúa vẫn có thể yên tâm sản xuất và nhận được thu nhập tương xứng với công sức bỏ ra. Chúng ta nói nhiều đến nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam, nhưng nếu phần giá trị gia tăng không được chia sẻ hợp lý với người nông dân thì chuỗi không thể bền vững”, ông Hà bày tỏ.

Từ cách nhìn này, Vinafood 1 đang chuyển dần từ mô hình thiên về mua bán gạo sang tổ chức, kết nối chuỗi giá trị lương thực - nông sản. Trong chuỗi ấy, nông dân không chỉ là người làm ra nguyên liệu rồi bán cho doanh nghiệp, mà được coi là đối tác.

Theo Tổng Giám đốc Vinafood 1, sự liên kết cần bắt đầu trước khi xuống giống. Doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân phải cùng thống nhất về giống, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và phương thức thu mua. Doanh nghiệp có trách nhiệm chia sẻ thông tin để người dân biết thị trường cần loại gạo nào, chất lượng ra sao, từ đó tổ chức sản xuất theo nhu cầu thay vì trồng trước rồi mới tìm đầu ra.

Giá thu mua cũng phải minh bạch và gắn với chất lượng sản phẩm. Khi thị trường thuận lợi, phần giá trị tăng thêm cần được chia sẻ hợp lý; khi khó khăn, các bên phải cùng gánh rủi ro thay vì đẩy thiệt hại cho đối tác.

“Xa hơn, doanh nghiệp phải đồng hành với nông dân chuyển sang phương thức sản xuất tiết kiệm hơn, giảm sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; đồng thời đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và phát thải ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế. Một doanh nghiệp lương thực chỉ thực sự thành công khi người nông dân trong chuỗi liên kết của mình cũng có thể sống tốt hơn từ chính cánh đồng của họ”, ông Hà nói.

a1-1.jpg

“Nâng tầm hạt gạo Việt Nam không chỉ là nâng giá trị của một mặt hàng xuất khẩu, mà còn phải nâng giá trị lao động của người nông dân và vị thế của nền nông nghiệp Việt Nam. Một doanh nghiệp có thể đi nhanh bằng nguồn lực riêng. Nhưng để hạt gạo Việt giữ được giá trị, xây dựng được uy tín và vươn xa trên thị trường thế giới, cả chuỗi phải biết chung bước”. ông Trần Sơn Hà, Tổng Giám đốc Vinafood 1

Vinafood 1 hiện có khoảng 10 nhà máy lúa gạo, chủ yếu tại ĐBSCL. Từ hơn 10 năm trước, Tổng Công ty đã thành lập đơn vị chuyên phát triển vùng nguyên liệu và từng triển khai mô hình liên kết tại An Giang. Tổng Công ty dự kiến tham gia sâu hơn vào Đề án phát triển một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL. Mục tiêu không chỉ là giảm phát thải, nâng chất lượng gạo mà còn giảm giá thành, giúp người trồng lúa cải thiện lợi nhuận.

Không chỉ bán nhiều hơn, mà phải bán giá trị cao hơn

Là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) dẫn đầu ngành lúa gạo, chiếm khoảng 10-15% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước hiện nay, lãnh đạo Vinafood 1 cho biết, Tổng Công ty đang đặt mục tiêu mở rộng năng lực kho tàng, thu mua và chế biến, qua đó đủ sức mua lượng lớn lúa gạo khi vào chính vụ lúc thị trường nhập khẩu trầm lắng hoặc giá giảm mạnh; đồng thời tham gia sâu hơn vào nhiệm vụ dự trữ chiến lược quốc gia.

Theo ông Hà, đây vừa là yêu cầu kinh doanh, vừa thể hiện trách nhiệm của DNNN trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định thị trường và góp phần nâng đỡ giá lúa cho nông dân vào những thời điểm khó khăn.

Cùng với tổ chức lại vùng nguyên liệu, Vinafood 1 đang chuyển mạnh cơ cấu sản phẩm. Nếu trước đây gạo trắng thông thường chiếm khoảng 50-60% sản lượng xuất khẩu thì hiện gạo thơm và gạo chất lượng cao đã chiếm khoảng 70-80%.

Đặc biệt, Tổng Công ty cũng đầu tư nâng cấp các khâu sấy, xay xát, tách màu, bảo quản và đóng gói. Trong bối cảnh lao động phổ thông tại vùng sản xuất ngày càng khan hiếm, tự động hóa không chỉ giúp giảm chi phí mà đã trở thành điều kiện để duy trì hoạt động ổn định của nhà máy.

Đến năm 2030, Vinafood 1 hướng tới trở thành doanh nghiệp lương thực - nông sản quy mô lớn, quản trị hiện đại, tài chính lành mạnh và đủ sức cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Hà, đích đến không chỉ là xây dựng một doanh nghiệp mạnh hơn, mà phải hình thành một chuỗi giá trị trong đó doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân cùng được hưởng lợi.

Ngành lúa gạo Việt Nam dù giữ vị thế xuất khẩu hàng đầu thế giới nhưng vẫn đối mặt điểm yếu cố hữu về sự thiếu liên kết trong toàn chuỗi giá trị. Theo ông Trần Sơn Hà, Tổng Giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1), tình trạng thiếu đồng bộ từ khâu cánh đồng, kho bãi đến cảng biển không chỉ đẩy chi phí vận hành tăng cao mà còn gây rủi ro đứt gãy hợp đồng mỗi khi giá cả biến động. Văn hóa kinh doanh ngắn hạn khiến nông dân sẵn sàng bán cho bên trả giá cao hơn, trong khi một số doanh nghiệp cũng trì hoãn thu mua khi thị trường đảo chiều bất lợi. Đáng lo ngại hơn, tình trạng phân mảnh còn bộc lộ rõ nét qua hiện tượng các nhà xuất khẩu trong nước tranh mua nguyên liệu rồi tự hạ giá để giành giật đối tác quốc tế. Cách làm này vô tình giúp khách hàng nước ngoài hưởng lợi, trong khi lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp lẫn người trồng lúa nội địa đều bị bào mòn nghiêm trọng. Trái ngược với chiến lược đồng thuận giữ giá xuất khẩu của Thái Lan hay tính kỷ luật của các nhà mua Trung Quốc, việc thiếu liên kết nội khối đang trực tiếp làm suy giảm năng lực cạnh tranh và uy tín quốc gia. Bước sang năm 2026, những biến số phức tạp từ thị trường nhập khẩu lớn như Philippines, Indonesia cùng áp lực chi phí vận tải toàn cầu đòi hỏi ngành hàng phải khẩn trương tái cấu trúc. Bài toán cốt lõi để nâng tầm thương hiệu hạt gạo nằm ở việc chuyển dịch mô hình từ thuần túy thương mại sang tổ chức liên kết chuỗi giá trị bền vững. Chỉ khi lợi ích gia tăng được phân chia tương xứng và lấy người nông dân làm đối tác đồng hành, chuỗi cung ứng lúa gạo mới có thể củng cố nội lực để vươn xa ổn định.
amung