Nhiều tiến bộ công nghệ chậm đi vào sản xuất
Sáng 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp (khu vực miền Bắc).
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, giai đoạn 2021-2026, ngành nông nghiệp và môi trường tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế và thúc đẩy xuất khẩu.
Năm 2025, ngành tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD. Kết quả này có sự đóng góp quan trọng của khoa học công nghệ.
Thứ trưởng nêu một số trường hợp tiêu biểu như việc ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến giúp năng suất các giống lúa mới tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng.
Trong các lĩnh vực khác, nghiên cứu vắc xin thú y, phát triển giống cây lâm nghiệp, mở rộng nuôi trồng thủy sản và tăng tỷ trọng chế biến sâu cũng đạt nhiều kết quả tích cực.
Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, giai đoạn 2021-2025, toàn ngành đã chủ trì, phối hợp triển khai 1.373 nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Kết quả có 225 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản và lâm nghiệp mới được công nhận và đưa vào sản xuất; 150 tiến bộ kỹ thuật được ban hành; 158 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp phép; bước đầu xác định được 19 sản phẩm cơ bản đáp ứng tiêu chí sản phẩm công nghệ chiến lược.
Mặt khác, có hơn 2.000 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, tuần hoàn, giảm phát thải được triển khai tại thực địa, góp phần giảm chi phí đầu vào và nâng cao thu nhập cho người sản xuất; hiệu quả kinh tế được ghi nhận tăng khoảng 10-30%.
Trong chuyển đổi số, toàn ngành đã hoàn thành xây dựng và từng bước vận hành 25 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chuyên ngành, đồng thời kết nối, liên thông trực tiếp với 12 cơ sở dữ liệu quốc gia.
Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để mở rộng ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, ngành nông nghiệp vẫn đối mặt với 5 điểm nghẽn lớn: sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ dàn trải; hạn chế về giống và công nghệ đầu vào; thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu; dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu.
Những hạn chế này thể hiện rõ ở từng ngành hàng. Chăn nuôi còn phụ thuộc khoảng 65% nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, công nghệ hiện đại chủ yếu tập trung tại trang trại lớn. Thủy sản chưa khai thác hết tiềm năng nuôi biển do hạn chế về giống, hạ tầng và liên kết thị trường.
Trong lâm nghiệp, các chuỗi giá trị chủ lực như keo, tre nứa, quế còn gặp khó khăn về giống, sâu bệnh, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn xuất khẩu. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao rộng rãi, liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, khiến nhiều tiến bộ công nghệ chậm đi vào sản xuất.
Ưu tiên truy xuất nguồn gốc đối với các chuỗi giá trị chủ lực
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, sinh thái, phát thải thấp, tuần hoàn và dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ.
Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải chuyển mạnh từ lấy “số lượng nhiệm vụ, sản phẩm nghiên cứu làm trọng tâm” sang lấy “hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và giá trị thực tế tạo ra cho sản xuất làm thước đo.
Mỗi nhiệm vụ cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của ngành, địa phương hoặc doanh nghiệp; xác định rõ sản phẩm đầu ra, đơn vị tiếp nhận, phương án ứng dụng, khả năng nhân rộng và tác động dự kiến đối với năng suất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, thu nhập và sức cạnh tranh của nông sản.
Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026-2030, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu bảo đảm ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Về giải pháp, theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, thời gian tới, Bộ sẽ tập trung 3 nhóm giải pháp lớn.
Một là, đột phá về nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược. Ưu tiên công nghệ sinh học gồm công nghệ gen, công nghệ tế bào trong phát triển giống thế hệ mới, vắc-xin thú y và chế phẩm sinh học; đẩy mạnh nông nghiệp chính xác, quản lý phát thải, quan trắc thông minh, dự báo thiên tai, quản lý tài nguyên và kinh tế tuần hoàn.
Hai là, đột phá về đổi mới sáng tạo, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trong đó, đổi mới cơ chế đặt hàng, tuyển chọn và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng tăng cường sự tham gia, đồng tài trợ và cam kết tiếp nhận kết quả của doanh nghiệp, hợp tác xã, địa phương.
Ba là, đột phá về chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Trong đó, tập trung hoàn thiện hạ tầng, cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin chuyên ngành; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý, dự báo và tổ chức sản xuất. Đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và truy xuất nguồn gốc trong quản lý vùng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm, phát thải và tài nguyên.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, ba hướng đột phá trên cần được triển khai đồng bộ theo nguyên tắc, lấy hiệu quả thực tiễn làm trung tâm, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp làm động lực, nguồn nhân lực và thể chế làm nền tảng.
"Mục tiêu không chỉ là tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu, mà quan trọng hơn là đưa công nghệ vào sản xuất, giảm chi phí, nâng giá trị gia tăng và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành nông nghiệp", Thứ trưởng nói.