Bỏ qua điều hướng
•

Nghịch lý làm sạch mã số thuế

Nghịch lý làm sạch mã số thuế
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Ngành thuế đang đẩy mạnh làm sạch mã số thuế, nhưng cũng từ đó phát sinh một số tình huống có chung hệ quả: đến sân bay mới biết mình không được xuất cảnh.

Đầu tiên phải làm rõ một điều, không phải cứ nợ vài chục nghìn đồng tiền thuế là đương nhiên bị hoãn xuất cảnh. Quy định hiện hành có các ngưỡng và điều kiện rất cụ thể. Đơn cử với cá nhân hay hộ kinh doanh thì nợ thuế từ 50 triệu đồng trở lên và quá hạn trên 120 ngày, còn với người đại diện pháp luật của doanh nghiệp thì từ 500 triệu đồng, quá hạn trên 120 ngày sẽ bị cưỡng chế tạm hoãn xuất cảnh.

Tuy nhiên, có một nhóm đặc biệt là người kinh doanh, đại diện doanh nghiệp nếu không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn nợ thuế quá hạn thì có thể bị áp dụng sau khi đã được thông báo mà không hoàn thành nghĩa vụ. Và chính nhóm này mới tạo ra những tình huống oái oăm gây bức xúc dư luận hiện nay. Đó là các doanh nghiệp đã đóng cửa trên thực tế, còn một khoản thuế rất nhỏ nhưng nghĩa vụ pháp nhân có thể "đi theo" người đại diện nhiều năm trời. Thậm chí còn dẫn đến một số tình trạng éo le hơn như một người nộp thừa thuế nhưng dữ liệu chưa được đối soát; một khoản nợ rất nhỏ do sai lệch dữ liệu; doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục; thay đổi căn cước, địa chỉ, số điện thoại nên không nhận được thông báo; hoặc đơn giản là không biết mình đang có nghĩa vụ thuế tồn đọng... Tất cả đều có thể dẫn đến việc "đến sân bay mới biết mình không được xuất cảnh". Đó chính là nghịch lý của số hóa dữ liệu thuế và công cuộc làm sạch mã số thuế hiện nay.

Làm sạch mã số thuế đáng lẽ phải giúp chúng ta "nhìn đúng người, đúng trạng thái" nhưng rõ ràng nếu chỉ "làm sạch" theo quy trình phát hiện - truy nghĩa vụ - cưỡng chế thì dữ liệu thuế có thể sạch hơn nhưng môi trường kinh doanh lại bị ảnh hưởng nặng nề. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để quá trình làm sạch mã số thuế không chuyển những tồn đọng của hệ thống sang người dân? Làm thế nào để môi trường kinh doanh không chỉ khởi nghiệp dễ, mà "quyền được chết" cũng phải thuận lợi, sạch sẽ cho doanh nghiệp?

Và một câu hỏi quan trọng hơn là chúng ta phải làm sạch dữ liệu thuế như thế nào để doanh nghiệp thất bại nhưng nền kinh tế không mất người? Bởi nếu làm sạch dữ liệu thuế lại khiến "cái chết" của một doanh nghiệp trở thành "án treo" kéo dài nhiều năm thì chi phí không chỉ là vài thủ tục hay một số tiền cụ thể mà chính là cơ hội của lần khởi nghiệp tiếp theo. Số liệu của chính ngành thuế cũng cho thấy điều này.

Theo công bố của Cục Thuế, có khoảng 617.000 mã số thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh cần rà soát, chuẩn hóa; trong đó gần 292.000 doanh nghiệp ở trạng thái đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế và khoảng 325.500 doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có nợ thuế. Đơn vị này nhìn nhận đây là hồ sơ tồn đọng kéo dài, gây chi phí xử lý, làm dữ liệu không phản ánh đúng thực trạng và có thể tạo rủi ro pháp lý cho chủ doanh nghiệp/người đại diện. Đồng thời cơ quan thuế cũng đang hỗ trợ một bộ phận doanh nghiệp khôi phục mã số thuế để quay lại hoạt động. Trong một diễn biến liên quan, trong 8 tháng năm 2026 đã có 3.554 doanh nghiệp được khôi phục. Vậy rất có thể trong số 617.000 doanh nghiệp, hộ kinh doanh cần rà soát nói trên chứa nhiều "số phận" khác nhau và không ít trong số đó thuộc diện có thể khôi phục?

Bản thân Cục Thuế cũng đặt mục tiêu rà soát để biết phân loại doanh nghiệp "chết" giúp hoàn tất thủ tục; doanh nghiệp "tưởng chết nhưng muốn sống" thì giúp khôi phục mã số thuế và với doanh nghiệp "ma" sẽ tiếp tục sàng lọc, kiểm soát. Đây là hướng đi đúng và cần thiết.

Về giải pháp đẩy nhanh việc này, đã có nhiều đề xuất, kiến nghị xác đáng. Hy vọng những nghịch lý trong quá trình làm sạch mã số thuế sẽ nhanh chóng được giải quyết để hệ thống dữ liệu của ngành trở thành nền tảng cho một môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, số hóa cả khi khai sinh lẫn khai tử.

Công cuộc làm sạch và chuẩn hóa mã số thuế của ngành thuế đang ghi nhận tình trạng nhiều người dân và doanh nhân chỉ phát hiện mình bị tạm hoãn xuất cảnh khi đã đến sân bay. Hiện nay, pháp luật quy định cụ thể ngưỡng cưỡng chế tạm hoãn xuất cảnh là nợ từ 50 triệu đồng và quá hạn trên 120 ngày đối với cá nhân, hoặc từ 500 triệu đồng đối với đại diện pháp luật của doanh nghiệp. Tuy nhiên, những hệ lụy oái oăm lại tập trung ở nhóm người kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn tồn đọng nghĩa vụ thuế, bất chấp khoản nợ có thể rất nhỏ hoặc xuất phát từ sai lệch dữ liệu đối soát. Thực tế rà soát cho thấy ngành thuế hiện có khoảng 617.000 mã số thuế cần chuẩn hóa, trong đó gồm gần 292.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt và khoảng 325.500 đơn vị không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký có nợ thuế. Việc thay đổi thông tin liên lạc khiến nhiều chủ doanh nghiệp không nhận được thông báo, biến các khoản nợ tồn đọng thành rào cản pháp lý kéo dài nhiều năm. Nếu quy trình làm sạch dữ liệu chỉ dừng lại ở việc phát hiện và cưỡng chế cơ học, tồn đọng của hệ thống quản lý sẽ vô tình chuyển thành gánh nặng trực tiếp lên người dân và môi trường kinh doanh. Để quá trình số hóa thực sự phát huy hiệu quả, nền kinh tế không chỉ cần cơ chế hỗ trợ khởi nghiệp mà còn phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp chấm dứt pháp nhân một cách thuận tiện và minh bạch. Trong 8 tháng năm 2026, cơ quan thuế đã hỗ trợ khôi phục mã số thuế cho 3.554 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Chuẩn hóa dữ liệu thuế cần đảm bảo sự đồng bộ giữa quản lý nhà nước và quyền lợi của người nộp thuế, tránh biến thất bại thương mại thành án treo pháp lý triệt hạ cơ hội tái khởi nghiệp.