Bỏ qua điều hướng
•

Nhận diện những áp lực lạm phát và yêu cầu kiên định ổn định vĩ mô

Nhận diện những áp lực lạm phát và yêu cầu kiên định ổn định vĩ mô
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng kinh tế đạt 9,01%. Với sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Chính phủ và các địa phương, kết quả cả năm có thể tiệm cận mức trên dưới 10%. Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%: Điểm sáng trong chỉ đạo, điều hành Nhìn thẳng vào những tồn tạ...

Ngày 18/10, thảo luận tại Tổ 8 (gồm Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La và thành phố Cần Thơ) về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2027, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh cần giải pháp đồng bộ về nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn và điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ - tài khóa để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn tới.

Dự phiên thảo luận tổ có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc; các Ủy viên Trung ương Đảng: Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ Đỗ Thanh Bình.

Đánh giá toàn diện bức tranh kinh tế và mục tiêu tăng trưởng

Đánh giá về báo cáo tình hình kinh tế-xã hội của Chính phủ năm 2026 và dự kiến năm 2027, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhận định đây là báo cáo rất kỹ lưỡng, toàn diện, phân theo các nhóm nội dung nhằm cung cấp bức tranh tổng thể về nền kinh tế. Báo cáo đã tập trung đánh giá các phần trọng tâm như động lực tăng trưởng kinh tế, các thị trường, cơ cấu ba lĩnh vực trọng tâm và cơ cấu ngành. Mặc dù một số nhóm nội dung mới dừng lại ở các cơ chế, chính sách và chưa có nhiều con số minh họa cụ thể, nhưng đây là những hướng đi đúng đắn, thể chế hóa các nghị quyết quan trọng của Đảng. Việc tổ chức thực hiện hiệu quả sẽ tạo giải pháp đồng bộ và bứt phá để phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế hai chữ số.

Phó Chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá cao Chính phủ trong việc thẳng thắn nhìn nhận các tồn tại, hạn chế và áp lực cần lưu ý trong điều hành kinh tế-xã hội từ nay đến cuối năm 2026 cũng như năm 2027.

Về mục tiêu năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số và kiểm soát lạm phát ở mức khoảng 4,5%. Làm rõ về khái niệm này, Phó Chủ tịch Quốc hội giải thích chỉ tiêu lạm phát "khoảng 4,5%" được hiểu trong dải biến động từ trên 4% đến dưới 5%. Tỷ lệ lạm phát 4,52% hiện nay vẫn nằm trong khoảng mục tiêu. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng kinh tế đạt 9,01%. Với sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Chính phủ và các địa phương, kết quả cả năm có thể tiệm cận mức trên dưới 10%. Đây là kết quả rất tích cực, đưa Việt Nam vào top ít nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng cao trên thế giới.

Bước sang năm 2027, việc tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đi kèm lạm phát mục tiêu khoảng 4,5% là phù hợp với lý thuyết và thực tiễn. Tăng trưởng kinh tế ở mức cao đòi hỏi mức lạm phát tương ứng chứ không thể kéo xuống quá thấp như 1-2%. Yêu cầu đặt ra là tăng trưởng cao nhưng phải đi đôi với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Nhận diện áp lực lạm phát và yêu cầu kiên định ổn định vĩ mô

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng chỉ rõ lạm phát trong thời gian tới vẫn đối mặt với nhiều yếu tố tác động bất lợi như: Lạm phát chịu ảnh hưởng từ độ trễ của các chính sách đã thực hiện thời gian qua; bối cảnh quốc tế khi giá dầu biến động, căng thẳng địa chính trị, thương mại leo thang, cùng xu hướng tăng lạm phát tại nhiều quốc gia khiến các ngân hàng trung ương trên thế giới duy trì hoặc thắt chặt chính sách tiền tệ. Cùng với đó, mục tiêu tăng trưởng hai chữ số thúc đẩy nhu cầu đầu tư và tiêu dùng tăng cao, tạo áp lực kéo lạm phát lên. Đồng thời khi xác định đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, yếu tố này cần thời gian để cải thiện năng suất lao động chứ chưa thể phát huy tác dụng ngay trong ngắn hạn. Do đó, nền kinh tế vẫn phải dựa vào nguồn vốn. Nếu vốn đưa ra nhiều nhưng không sử dụng hiệu quả sẽ dẫn đến nguy cơ lạm phát gia tăng.

Từ những phân tích trên, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ tăng cường công tác phân tích, dự báo và cập nhật thường xuyên diễn biến lạm phát để có giải pháp ứng phó phù hợp. Khi xuất hiện rủi ro mất ổn định vĩ mô, cần chủ động điều chỉnh kéo kỳ vọng lạm phát xuống khoảng dưới của mục tiêu (khoảng từ 4% đến 4,5%). Đối với nền kinh tế Việt Nam, yếu tố tâm lý và lạm phát kỳ vọng đóng vai trò rất quan trọng.

Đồng tình với báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết và là nền tảng vững chắc để nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững.

Để đạt mức tăng trưởng kinh tế cao mà hạn chế tối đa áp lực lên lạm phát, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm: Tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Về tăng năng suất lao động: Vận hành bộ máy chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả, tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động sẽ không gây áp lực lên lạm phát. Việc cả hệ thống chính trị tập trung vận hành bộ máy chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả sẽ nâng cao chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp, giúp tạo ra sản lượng lớn hơn từ cùng một nguồn lực đầu vào.

Bên cạnh đó, đưa đổi mới sáng tạo vào sản xuất kinh doanh: Cần chuyển từ giai đoạn chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ sang việc đưa đổi mới sáng tạo, phát minh sáng chế trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp nâng cao giá trị gia tăng và năng suất lao động.

Về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Trong kế hoạch 5 năm, Chính phủ đề ra tổng nguồn lực dự kiến là 38,5 triệu tỷ đồng với mục tiêu chỉ số ICOR từ 4,5 đến 4,8 (thấp hơn nhiều so với mức trên 6 của giai đoạn trước). Nếu không kéo được ICOR xuống mức 4,5 - 4,8 thì dù có huy động đủ 38,5 triệu tỷ đồng cũng khó đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế: Đánh giá cao việc Chính phủ giảm trên 50% thời gian thực hiện thủ tục hành chính, kết hợp với việc tháo gỡ vướng mắc thể chế qua các luật đang được trình Quốc hội xem xét (như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu...), Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng các biện pháp này sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ dự án từ phê duyệt đến thi công, tăng tốc độ vòng quay của vốn.

Giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng: Việc triển khai hiệu quả các cơ chế, nghị quyết của Quốc hội (như Nghị quyết 206, Nghị quyết 29) để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng kéo dài nhiều năm sẽ giải phóng nguồn lực lớn, tạo bứt phá cho tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều hành ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Đây là nhiệm vụ nhiều thách thức đối với Ngân hàng Nhà nước khi phải xử lý mối quan hệ đánh đổi giữa các công cụ lãi suất, tỷ giá và tín dụng. Trong bối cảnh áp lực nhập siêu gia tăng và dòng vốn FII rút ròng, các cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô phải theo dõi sát tình hình, xác định rõ thứ tự ưu tiên trong từng thời điểm và đẩy mạnh tương tác với thị trường để định hướng kỳ vọng.

Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô phải đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ. Sự kết hợp hài hòa, đồng bộ giữa dư địa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách quản lý giá (nhất là thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý) là chìa khóa quyết định để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững./.

(Vietnam+)
Tại phiên thảo luận Tổ 8 ngày 18/10 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đánh giá bức tranh kinh tế đang ghi nhận nhiều tín hiệu bứt phá. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2026 đạt 9,01%, tạo tiền đề quan trọng để cả năm tiệm cận mức hai chữ số. Kết quả tích cực này phản ánh nỗ lực chỉ đạo quyết liệt của hệ thống chính trị, đưa Việt Nam vào nhóm ít nền kinh tế duy trì tốc độ phát triển cao toàn cầu. Song hành với mục tiêu tăng trưởng cao là yêu cầu xuyên suốt về việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% được xác định nằm trong biên độ từ trên 4% đến dưới 5%, phù hợp cả về lý thuyết kinh tế lẫn thực tiễn vận hành thị trường. Mức lạm phát hiện tại 4,52% vẫn nằm trong tầm kiểm soát, phản ánh sự tương thích cần thiết khi nền kinh tế tăng tốc thay vì hạ xuống mức quá thấp. Thời gian tới, công tác điều hành vĩ mô tiếp tục đối diện nhiều sức ép từ độ trễ chính sách cũng như các biến động bất lợi của thị trường quốc tế. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bền vững cho năm 2026 và 2027, các bộ ngành cần triển khai đồng bộ giải pháp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn. Sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt giữa chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ là chìa khóa then chốt nhằm hóa giải áp lực lạm phát.
amung