Dự án tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (VWAI), Đại học Công nghệ Texas (Mỹ), mong được kết nối với thân nhân, đồng đội hoặc người từng biết quân nhân Cao Văn Thi. Theo thông tin bước đầu, ông nhiều khả năng thuộc Tuyến K1, đơn vị Công binh số 15 Trường Sơn, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Cuốn nhật ký của Cao Văn Thi bị quân đội Mỹ thu giữ ngày 10/3/1967 tại Quảng Trị. Những trang viết lưu lại hành trình vượt sông Bến Hải, cuộc sống tại phòng tuyến B5, nhiệm vụ hướng tới Đường 9 và nỗi nhớ gia đình trong những ngày Tết xa nhà.
Múc nước sông Bến Hải "cho thỏa lòng mong mỏi"
Trong trang nhật ký đề ngày 21/2/1967, dưới tiêu đề "Thu đông 1966", Cao Văn Thi kể lại lần đầu vượt tuyến vào Nam ngày 19/6/1966. Trước mắt người lính là dòng Bến Hải giữa màu xanh của núi rừng Quảng Trị:
"Lần đầu tiên vượt tuyến vào Nam lúc 1 giờ 30 ngày 19 tháng 6-66 vào buổi chiều cuối thu. Dòng sông Bến Hải thuộc Quảng Trị vẫn đội một màu xanh của lá rừng đồi núi. Sông Bến Hải vẫn từ từ êm ả trôi xuôi, dòng nước trong xanh in lên những bóng người giữa dòng, trông tận đáy.
Đoàn người lặng lẽ bước đi, tuy họ không nói lên nhưng ai cũng có một cảm giác như nhau...
Ôi dòng Bến Hải. Con sông nhỏ chỉ rộng ba chục thước mà ngăn cách thế này ư? Đã từ lâu tôi mơ ước được trông thấy sông Bến Hải. Hôm nay đã tới đây rồi, nước chảy mát rượi dưới chân tôi".


Những dòng nhật ký ghi lại 2 lần vượt sông Bến Hải (Ảnh: VWAI).
Theo lời Cao Văn Thi, hơn 10 năm đất nước bị ngăn đôi bởi dòng sông nhỏ. Được đặt chân tới đây là điều ông đã mong đợi từ lâu: "Hơn 10 năm nay Tổ quốc bị ngăn đôi giữa dòng sông nhỏ bé này. Hôm nay ước mơ ấy đã đến với tôi, giữa chiều thu sắp tàn của một ngày hành quân! Tôi cúi xuống múc một bi đông nước trong vắt và tu ngay một ngụm cho thỏa lòng mong mỏi".
Khoảnh khắc bên dòng Bến Hải diễn ra dưới bầu trời liên tục có máy bay hoạt động. Trong nhật ký, ông gọi những chiếc máy bay đang gầm thét trên đầu là "những con quạ sắt", đồng thời ghi lại sự xuất hiện của máy bay trinh sát L-19: "Trên đầu tôi, bầu trời tươi đẹp của đất nước bị ngang dọc những con quạ sắt gầm thét...
Máy bay trinh sát L-19 bay sà tìm kiếm. Loại máy bay này chúng đã tự hào là vạch lá tìm sâu rừng. Khốn nạn thay cho bầy sâu [không rõ]. Dù chúng bay có tìm kiếm bằng phương tiện nào hiện đại hơn nữa chăng, chúng bay vẫn là kẻ mù quáng, không thể nào thấy được đoàn quân vừa đi với tất cả lòng căm thù càng thêm kín đáo".
Sau những dòng viết về Bến Hải, Cao Văn Thi dành nhiều trang ghi lại cuộc sống tại phòng tuyến B5, nơi ông từng trải qua những tháng ngày gian khổ:
"Khi nghe nhắc đến phòng tuyến B5, mình lại giật mình và nhớ đến những ngày tháng gian khổ ở B5. Các bạn hãy nhớ rằng cuộc sống ở B5 không đơn giản và bình thường. Cuộc sống ở B5 rất gian khổ và căng thẳng.
Ngày đêm tranh chấp với quân thù từng tấc đất, miếng vườn; đêm ngày súng nổ giòn giã, bom đạn [không rõ], tiếng gầm rú của đủ loại máy bay chuyển động như một nhà máy cơ khí hạng lớn, ngày đêm tìm kiếm để trút bom đạn".
Bom đạn khiến địa hình và cây cối tại B5 bị tàn phá. Cao Văn Thi viết những quả đồi không còn lành lặn, nhiều khu vực ven suối cũng không còn cây cối rậm rạp: "Những quả đồi ở B5 không còn quả đồi nào lành lặn, không còn khu suối nào là rậm rạp. Bom đạn Mỹ, bom đạn quân xâm lược trút xuống Tổ quốc ta. Ôi thật là hèn nhát, từ cây cỏ đến sông ngòi, khe suối đều là mục tiêu mà đế quốc Mỹ lúng túng và run sợ".
Trong lần thứ hai trở lại B5, ông nhận thấy cảnh vật đã thay đổi hoàn toàn so với 8 tháng trước: "Mình có dịp được trở lại B5 lần nữa, lần này là lần thứ hai trở lại B5. Cây cối cách đây tám tháng còn xanh tốt, giờ đây bọn Mỹ đã rải chất hóa học diệt cỏ làm cây cối rụng hết lá, trơ cành như một rừng cháy vậy.
Nếu ai vào B5 là con người thì nhất trí có thể không dám mở mắt nhìn những cảnh núi rừng và những bãi bom B-52, rồi hàng cây. Những quả đồi đất bị xới lên không biết bao nhiêu lần.
Bom đạn như vậy, cuộc sống của chúng mình lúc này ra sao".
"Mẹ hãy thứ lỗi cho con vì chiến tranh"
Tết đến giữa chiến trường khiến Cao Văn Thi nhớ lại thời thơ ấu:
"Mình nhớ lại những năm còn thơ lúc tết đến xin tiền mẹ mua pháo bắn đón xuân, nhưng năm nay mình không được ở bên cạnh người mẹ hiền từ ấy nữa. Mẹ ơi giờ đây con chắc rằng mẹ nhớ con và nhắc đến con luôn mẹ nhỉ? 2 năm rồi con mẹ biệt tăm không về thăm mẹ được. Mẹ hãy thứ lỗi cho con vì chiến tranh, con nằm đây tuy không nghe tiếng pháo nổ đón giao thừa, nhưng mẹ ạ, những quả pháo của quân thù luôn luôn nổ bên cạnh con làm rung động cả rừng núi. Đồng bào quân dân trong B5 này rất gian khổ. Trong khu miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng ta đón giao thừa. Đã tết rồi mà đồng bào trong vùng vẫn đi mua sắn khoai ở tận Vĩnh Linh xa hàng 30 cây số cơ. Chiến tranh thật uất hận..."

Dòng nhật ký Cao Văn Thi khi nhớ về tuổi thơ (Ảnh: VWAI).
Sáng 24/2/1967, đơn vị nhận lệnh đi chiến đấu. Mọi người khẩn trương gói quần áo để lại hậu phương, mỗi người chỉ mang theo một bộ đồ và một bộ đồ lót.
Đơn vị dự kiến lên đường ngày 25/2. Cao Văn Thi nhẩm tính số hành trang mình phải mang gồm một quả mìn nặng 8 kg, một cuộn dây điện nặng 4 kg và 15 ngày gạo.
"Nặng chao ôi là nặng. Nhưng nghe nói được đi chiến đấu thì tất cả đều nhẹ hết, lòng mình sung sướng như đứa trẻ được bộ quần áo mới vậy", ông viết.
Người lính tự hỏi tại sao mình lại cảm thấy như vậy nhưng cũng "không hiểu tại sao nữa". Sau đó, ông tự lý giải rằng "đời lính chỉ có vậy", đây là thời cơ để trả thù cho những người đã mất vì đất nước.
Mang mìn, dây điện tiến về Đường 9
Ngày 25/2/1967, đơn vị hành quân tới vị trí huyện đội Cam Lộ. Dọc đường, Cao Văn Thi quan sát thấy máy bay bay rất thấp.
"Trong đời chưa bao giờ được thấy máy bay bay thấp như vậy, đến nỗi nó bay thấy cả cửa kính", ông ghi lại. Chiếc L-19 cùng một loại máy bay phản lực lớn được người lính mô tả "to như cái thuyền vậy".

Sáng 26/2, Cao Văn Thi vẫn nghĩ về nhiệm vụ sắp tới. Theo nhật ký, đơn vị đang chuẩn bị "vào đánh đường số 9". Càng tiến sâu, tình hình càng căng thẳng, tiếng pháo ngày một gần.
"Pháo bắn rất gần, mảnh đạn rơi cả vào bát nhân dân ở đây", ông viết.
Người dân đã bị dồn sang phía bờ nam sông Cam Lộ. Những xóm làng dọc đường chỉ còn các cột nhà và vài cây cau khô héo, "vất vưởng gắng gượng đưa tàu lá bay theo gió sớm của mùa xuân sắp tàn".
Trước cảnh người dân phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, Cao Văn Thi viết hai câu:
"Đau thương thấy cảnh dồn dân
Ra đi bỏ lại ruộng vườn héo khô".
Cuốn nhật ký bị thu giữ ngày 10/3/1967, chưa đầy 2 tuần sau những ghi chép về cuộc hành quân hướng tới Đường 9. Kỷ vật lưu lại những lát cắt trong hành trình của người lính, từ phút xao xuyến khi bước xuống sông Bến Hải đến cảnh núi rừng B5 bị bom đạn cày xới, nỗi nhớ mẹ trong dịp Tết và những ngày mang mìn, dây điện, lương thực lên đường làm nhiệm vụ.
VWAI mong nhận được thông tin từ thân nhân, đồng đội hoặc những người từng biết Cao Văn Thi, qua đó xác minh thêm về nhân thân, đơn vị và hành trình quân ngũ của ông, đồng thời tạo cơ hội đưa cuốn nhật ký trở về với gia đình sau nhiều thập kỷ.
Dự án tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (VWAI) do Đại học Công nghệ Texas chủ trì nghiên cứu, do chính phủ Mỹ tài trợ, với sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam.