Bỏ qua điều hướng
•

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Bệnh viêm màng não mô cầu gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis. Vi khuẩn này có ổ chứa tự nhiên duy nhất đã biết là con người, chưa phát hiện loài động vật trung gian khác truyền vi khuẩn.

Vi khuẩn não mô cầu được phát hiện lần đầu tiên khi nào?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), viêm màng não mô cầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis (còn có tên meningococcus). Bệnh có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng như viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu, thậm chí có thể tiến triển gây tử vong chỉ trong vài giờ.

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu - 1

Ảnh minh họa về hình dạng của vi khuẩn não mô cầu (Ảnh: WHO).

Neisseria meningitidis cũng được gọi là vi khuẩn não mô cầu. Bệnh do vi khuẩn não mô cầu xuất hiện trên toàn thế giới. Các nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất bao gồm trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên.

Neisseria meningitidis là một song cầu khuẩn có hình hạt cà phê áp vào nhau. Song cầu khuẩn là nhóm các vi khuẩn có hình cầu hoặc hình bầu dục, thường đứng dính liền vào nhau thành từng cặp.

Đặc điểm của loại vi khuẩn này là mức độ biến đổi kháng nguyên rất cao, giúp cho vi khuẩn này, cũng như một số loại vi khuẩn gây nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương khác, có thể thoát khỏi các cơ chế miễn dịch của vật chủ.

Vi khuẩn não mô cầu được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1887 bởi nhà vi khuẩn học người Áo Anton Weichselbaum (1845-1920), khi ông nghiên cứu dịch não tủy của một bệnh nhân mắc viêm màng não.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, vi khuẩn não mô cầu có 13 nhóm huyết thanh khác nhau, là những nhóm vi khuẩn được phân loại dựa trên sự khác biệt về cấu trúc của lớp vỏ bao quanh vi khuẩn. Trong đó các vi khuẩn nhóm A, B, C, W, X và Y gây ra dịch bệnh viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết ở người.

Số liệu nghiên cứu của WHO cho thấy vi khuẩn não mô cầu nhóm A là nguyên nhân gây ra nhiều đợt dịch viêm màng não lớn, đặc biệt tại khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara.

Ngoài ra còn có vi khuẩn não mô cầu nhóm D, E, H, I, K và L, nhưng chưa có bằng chứng cho thấy vi khuẩn thuộc nhóm này gây bệnh nguy hiểm ở người.

Việc phân nhóm vi khuẩn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển vaccine phòng bệnh, khi hệ miễn dịch có thể tạo ra kháng thể nhận diện cấu trúc vỏ của vi khuẩn, giúp cơ thể tạo ra trí nhớ miễn dịch để tiêu diệt vi khuẩn.

Trước khi có vaccine và kháng sinh, tỷ lệ tử vong khi mắc bệnh viêm màng não mô cầu lên đến 75 đến 80%. Ngày nay, tỷ lệ tử vong của bệnh vẫn còn ở mức khá cao, từ 10 đến 15%. Ngoài ra, bệnh còn để lại những di chứng nghiêm trọng như mất thính lực, rối loạn nhận thức, suy giảm thị lực, vấn đề về hành vi…

Con người là ổ chứa tự nhiên duy nhất của vi khuẩn não mô cầu

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), con người là vật chủ tự nhiên duy nhất của vi khuẩn Neisseria meningitidis, tác nhân gây bệnh não mô cầu.

Vi khuẩn có thể cư trú ở vùng mũi họng mà không gây triệu chứng và lây từ người sang người qua giọt bắn đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng, nước bọt.

Vi khuẩn não mô cầu không dễ lây như các tác nhân gây cảm lạnh hoặc cúm thông thường. Nguy cơ lây truyền tăng khi tiếp xúc gần hoặc kéo dài với người mang vi khuẩn, chẳng hạn như sống cùng nhà, hôn hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết đường hô hấp. Việc dùng chung dụng cụ ăn uống trong những tình huống tiếp xúc gần cũng có thể tạo điều kiện lây truyền.

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu - 2

Vi khuẩn não mô cầu lây trực tiếp từ người sang người, nhưng chỉ khi tiếp xúc gần trong thời gian dài (Ảnh minh họa: GPT).

Đáng chú ý, không phải người nào mang vi khuẩn não mô cầu trên cơ thể cũng bị mắc bệnh. Theo CDC Hoa Kỳ, tại một thời điểm nhất định, khoảng 5 đến 10% dân số có thể mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng mũi họng mà không có triệu chứng hoặc nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, những người mang vi khuẩn không có triệu chứng vẫn có thể lây nhiễm vi khuẩn cho người khác.

Chỉ một tỷ lệ nhỏ người mang vi khuẩn phát triển thành bệnh xâm lấn, trong trường hợp vi khuẩn vượt qua hàng rào niêm mạc đường hô hấp để xâm nhập vào máu hoặc hệ thần kinh trung ương mới gây ra bệnh nghiêm trọng như viêm màng não do não mô cầu, nhiễm khuẩn huyết…

Những đợt dịch viêm màng não mô cầu lớn trong lịch sử gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis

Vi khuẩn não mô cầu đã từng gây ra những đợt dịch khiến hàng nghìn người tử vong, đặc biệt tại châu Phi.

Đợt bùng dịch viêm màng não mô cầu đầu tiên được mô tả đầy đủ là vào năm 1805 tại Geneva (Thụy Sĩ) khiến 33 người tử vong trong khoảng 3 tháng.

Trong giai đoạn từ 1988 đến 2015, viêm màng não mô cầu đã lan rộng tại các quốc gia thuộc vùng cận sa mạc Sahara của châu Phi, trải dài từ phía tây Senegal đến phía đông Ethiopia (gồm khoảng 26 quốc gia). Đây là một trong những khu vực chịu gánh nặng bệnh do não mô cầu lớn nhất thế giới. 

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu - 3

Các quốc gia thuộc vành đai viêm màng não châu Phi (Ảnh: MaidenLab).

Những quốc gia châu Phi có số ca nhiễm viêm màng não mô cầu lớn nhất này được gọi chung là vành đai viêm màng não châu Phi. Các yếu tố như điều kiện khí hậu, mật độ dân cư đông đúc, tỷ lệ miễn dịch thấp và sự lưu hành của những chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh cao là những yếu tố góp phần thúc đẩy dịch bệnh tại những quốc gia này.

Theo báo cáo của WHO, nhờ các biện pháp phòng dịch và đặc biệt là triển khai tiêm vaccine phòng bệnh, số ca nhiễm và tử vong do viêm màng não tại khu vực này đã giảm mạnh, đặc biệt là viêm màng não mô cầu nhóm A.

Vaccine là biện pháp phòng ngừa hiệu quả bệnh viêm màng não mô cầu

Theo WHO, viêm màng não do não mô cầu là bệnh có thể phòng ngừa bằng vaccine. Hiện đã có sẵn một số loại vaccine giúp bảo vệ cơ thể khỏi các nhóm vi khuẩn phổ biến nhất gây bệnh. Các loại vaccine này được sử dụng cho cả chương trình tiêm chủng thường quy lẫn công tác ứng phó với các đợt dịch viêm màng não.

Những điều cần biết về vi khuẩn gây viêm não mô cầu - 4

Vaccine là biện pháp hiệu quả giúp ngăn ngừa viêm màng não mô cầu (Ảnh: CDC).

WHO khuyến nghị các quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh lưu hành cao (nhiều hơn 10 ca/100.000 dân/năm) hoặc trung bình (2-10 ca/100.000 dân/năm), và/hoặc thường xuyên xảy ra các đợt bùng phát bệnh viêm màng não do não mô cầu xâm lấn, cần triển khai các chương trình tiêm chủng phòng bệnh não mô cầu quy mô lớn phù hợp.

WHO cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện giám sát chất lượng cao và đánh giá các chương trình tiêm chủng tại những quốc gia này.

Tại những quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn (ít hơn 2 ca/100.000 dân/năm), việc tiêm vaccine phòng bệnh não mô cầu được khuyến nghị cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cụ thể như nhân viên phòng thí nghiệm, người bị suy giảm miễn dịch, trẻ em…

Viêm màng não do não mô cầu là căn bệnh có khả năng gây dịch, dù xác suất không cao. Hiện nay, một kho dự trữ vaccine khẩn cấp toàn cầu dành cho bệnh viêm màng não mô cầu được quản lý thông qua Nhóm Điều phối Quốc tế (ICG) nhằm cung cấp vaccine phòng bệnh viêm màng não do não mô cầu khi cần thiết.

Viêm màng não mô cầu do song cầu khuẩn Neisseria meningitidis gây ra là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đặc biệt nguy hiểm. Kể từ khi được nhà vi khuẩn học Anton Weichselbaum phát hiện vào năm 1887 từ dịch não tủy của bệnh nhân, mầm bệnh này luôn là thách thức lớn đối với y tế công cộng toàn cầu. Nhóm đối tượng ghi nhận nguy cơ mắc bệnh cao nhất hiện nay gồm trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ cùng thanh thiếu niên. Điểm mấu chốt tạo nên tính nguy hiểm của Neisseria meningitidis là khả năng biến đổi kháng nguyên rất cao, hỗ trợ vi khuẩn lẩn tránh hiệu quả hệ miễn dịch vật chủ. Trong số 13 nhóm huyết thanh được CDC Hoa Kỳ phân loại dựa trên cấu trúc lớp vỏ, các nhóm A, B, C, W, X và Y là tác nhân chính gây dịch viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết. Điển hình tại khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara, vi khuẩn nhóm A từng bùng phát thành nhiều đợt dịch quy mô lớn. Dù đã có kháng sinh cùng vaccine hạ tỷ lệ tử vong từ mức 75 đến 80% trước đây xuống còn 10 đến 15%, căn bệnh vẫn có thể đoạt mạng bệnh nhân chỉ sau vài giờ khởi phát. Những trường hợp may mắn sống sót cũng phải đối mặt với di chứng nặng nề suốt đời như mất thính lực, rối loạn nhận thức hay suy giảm thị lực. Đáng chú ý, con người hiện là ổ chứa tự nhiên duy nhất của mầm bệnh này, vi khuẩn cư trú tại vùng mũi họng và lây truyền qua giọt bắn hô hấp khi tiếp xúc gần hoặc kéo dài.
amung