Bỏ qua điều hướng
•

Nuôi bền ngọn lửa

Nuôi bền ngọn lửa
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Bằng những đôi tay tài hoa và tình yêu sâu bền với nghề truyền thống, nhiều nghệ nhân vẫn hằng ngày tích cực giữ nghề và truyền dạy cho thế hệ sau.

Làng Định Công (phường Định Công, Hà Nội) từng rất hưng thịnh với nghề đậu bạc. Thế nhưng hiện nay, làng chỉ còn hai gia đình giữ nghề cổ truyền là gia đình ông Quách Văn Trường và Quách Văn Hiểu. Tính đến con ông Trường, ông Hiểu là đời thứ năm “giữ lửa” nghề. Đậu bạc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cần mẫn. Để trở thành một người thợ lành nghề người học phải thực hành ít nhất hai năm mới có thể làm nên những sản phẩm hoàn chỉnh. Người thợ phải nắm chắc bốn kỹ thuật cơ bản, đó là trơn, đấu, chạm, đậu. Anh Quách Phan Tuấn Anh, con trai nghệ nhân Quách Văn Trường sau khi tốt nghiệp đại học đã quyết định ở nhà vực dậy nghề tổ. Tuấn Anh chia sẻ: "Người trẻ ngày càng ít quan tâm đến nghề đậu bạc, bản thân tôi rất muốn gìn giữ nghề, tri ân các bậc tiền nhân".

Để tinh hoa nghề đậu bạc lan tỏa trong đời sống, ngoài dòng sản phẩm phổ biến như dây chuyền, hoa tai, nhẫn, trâm cài tóc… anh Tuấn Anh đã phát triển thêm dòng sản phẩm gắn với các biểu tượng, phong cảnh, di tích của Thủ đô Hà Nội.

Không chạy theo số lượng, Nghệ nhân Nhân dân Vũ Văn Giỏi làng thêu Đông Cứu (xã Thượng Phúc, Hà Nội) đã góp công lớn trong việc hồi sinh nghệ thuật thêu long bào. Trong khi nhiều làng thêu bị mai một, nhiều người Đông Cứu chuyển sang thực hành thêu công nghiệp, ông Giỏi vẫn giữ “nghiệp” kim chỉ bằng đôi tay. Từ năm 1994, với sự giúp đỡ của nhiều nhà nghiên cứu, nghệ nhân, ông Giỏi cùng các học trò đã thêu được hàng chục bộ trang phục cung đình, gồm áo nhà vua, hoàng hậu, thái tử, công chúa...

313-3247.jpg
Sản phẩm đậu bạc Định Công thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân. Ảnh: NVCC

Ở phường Hà Đông, làng dệt the La Khê từng có thời gian dài phát triển, song đến nay, cả làng chỉ còn vợ chồng nghệ nhân Lê Đăng Toản, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh giữ nghề. Khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ, nhưng hai vợ chồng ông Toản vẫn cố gắng để sản phẩm the La Khê tiếp tục tồn tại trong đời sống hiện đại. Ông Lê Đăng Toản kiến nghị: “Chúng tôi vẫn hằng mong có các dự án hỗ trợ để phát triển nghề. Thực lòng, dù tâm huyết, nhưng có lúc, tôi nghĩ mình đang giữ nghề trong cô đơn”.

Những câu chuyện về nghệ nhân tiêu biểu, giàu tâm huyết, cho thấy, muốn phát triển làng nghề bền vững, trước hết phải coi trọng nghệ nhân. Bởi máy móc có thể giúp tăng năng suất, công nghệ có thể mở rộng thị trường, nhưng chính tri thức, đôi bàn tay và sức sáng tạo của người nghệ nhân mới làm nên bản sắc, chiều sâu văn hóa và giá trị khác biệt của sản phẩm làng nghề.

Uy tín của nghệ nhân cùng những tác phẩm độc đáo đã tạo dấu ấn nhận diện của cả làng nghề, thu hút khách tham quan. Bởi thế, cơ quan chức năng cần quan tâm đến nghệ nhân, không chỉ dừng ở việc vinh danh, mà cần tạo điều kiện để họ sống được bằng nghề, có môi trường sáng tạo và được hưởng thành quả xứng đáng từ những giá trị mình mang lại.

Các nghệ nhân cần được nhìn nhận không chỉ như người lưu giữ kỹ thuật, ký ức mà còn là chủ thể sáng tạo, tham gia định hình tương lai của làng nghề.

HẢI XUÂN

Dưới sức ép của quá trình đô thị hóa và xu hướng công nghiệp hóa, nhiều làng nghề truyền thống tại Hà Nội đang đứng trước nguy cơ mai một khi số lượng người nắm giữ bí quyết ngày càng thu hẹp. Điển hình như làng Định Công hiện chỉ còn hai gia đình ông Quách Văn Trường và Quách Văn Hiểu duy trì nghề đậu bạc qua năm thế hệ, hay tại La Khê chỉ còn vợ chồng nghệ nhân Lê Đăng Toản và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh tiếp tục dệt the. Tương tự, giữa làn sóng thêu máy công nghiệp, Nghệ nhân Nhân dân Vũ Văn Giỏi ở làng Đông Cứu vẫn kiên trì phục dựng thủ công hàng chục bộ trang phục cung đình triều Nguyễn. Sự tồn tại bền bỉ của các di sản này phụ thuộc trực tiếp vào ý chí vượt khó và nỗ lực làm mới sản phẩm của từng cá nhân. Tại Định Công, người học việc phải rèn luyện ít nhất hai năm để thuần thục bốn kỹ thuật trơn, đấu, chạm, đậu, trước khi thợ trẻ Quách Phan Tuấn Anh mạnh dạn đưa các biểu tượng Hà Nội vào trang sức để tiếp cận thị trường đương đại. Dẫu vậy, tâm sự giữ nghề trong cô đơn của nghệ nhân Lê Đăng Toản phản ánh rõ rào cản lớn về nguồn lực sản xuất, chuỗi tiêu thụ và nguy cơ đứt gãy thế hệ kế cận. Thực trạng trên cho thấy máy móc chỉ gia tăng sản lượng, còn tri thức bản địa và đôi bàn tay nghệ nhân mới là cốt lõi tạo nên bản sắc độc bản của văn hóa làng nghề. Do đó, chính sách bảo tồn không thể dừng lại ở các danh hiệu vinh danh mang tính hình thức, mà cần các đề án hỗ trợ thực chất về kinh tế và không gian sáng tạo. Việc bảo đảm thu nhập xứng đáng sẽ biến các nghệ nhân từ những người níu giữ quá khứ trở thành chủ thể kiến tạo tương lai cho di sản.
amung