Hãy hình dung hai kỹ sư trẻ cùng tốt nghiệp một trường, cùng mang chức danh kỹ sư bán dẫn. Người thứ nhất vào một nhà máy FDI hiện đại, vận hành dây chuyền theo quy trình chuyển từ công ty mẹ, xử lý lỗi trong phạm vi được giao.
Người thứ hai ở trong một nhóm được giao thiết kế một cấu phần chip, được phép thử, được phép sai, và được nhìn thấy bản vẽ của mình đi vào sản phẩm.
Năm năm sau, cả hai đều là "nhân lực công nghệ cao" trong thống kê. Nhưng năng lực và đóng góp của họ thì có thể rất khác nhau.
Việt Nam đang đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên cho ngành bán dẫn, bên cạnh các chương trình nhân lực cho trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Đó là bước đi cần thiết. Nhưng chúng tôi cho rằng mục đích của chúng ta không chỉ nằm ở con số 50.000, mà còn ở một vấn đề khác: những kỹ sư được đào tạo sẽ đủ năng lực làm loại công việc nào?
Cùng một chức danh, mức độ tích lũy năng lực rất khác nhau. Vận hành dây chuyền và tuân thủ tiêu chuẩn tạo ra năng lực sản xuất. Xử lý lỗi, cải tiến cục bộ tạo ra năng lực quy trình. Tham gia thiết kế, tích hợp, thử nghiệm tạo ra năng lực kỹ thuật.

Một vi mạch bán dẫn, linh kiện quan trọng trong ngành công nghiệp điện tử và sản xuất chip (Ảnh minh họa: CV)
Trong ngành công nghiệp bán dẫn, chỉ khi chúng ta nắm kiến trúc sản phẩm, lộ trình công nghệ, và sở hữu trí tuệ, thì mới tích lũy được năng lực làm chủ. Tất cả các loại công việc trong ngành đều cần. Nhưng nếu phần lớn nhân lực dồn ở những việc mang tính vận hành theo quy trình có sẵn, số việc làm có thể tăng rất nhanh trong khi năng lực công nghệ nội sinh vẫn lớn rất chậm.
Một quốc gia có thể nhập khẩu nhà máy, máy móc và sản phẩm. Nhưng không ai bán trọn gói năng lực xác lập bài toán, nghiên cứu, thiết kế, sửa lỗi và phát triển thế hệ sản phẩm tiếp theo. Những thứ đó chỉ tích lũy qua con người, nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, dữ liệu và mạng lưới doanh nghiệp. Đó là khoảng cách giữa "có sản xuất công nghệ cao" và "có năng lực công nghệ".
Chính khoảng cách này khiến chúng tôi nghĩ nhiều về Hàn Quốc.
Khi bắt đầu công nghiệp hóa, Hàn Quốc thiếu cả vốn, công nghệ lẫn năng lực nghiên cứu. Họ nhập thiết bị, mua nhà máy chìa khóa trao tay, tiếp nhận giấy phép công nghệ, vay vốn quốc tế. Đến đầu thập niên 1980, khi lao động giá rẻ và công nghệ nhập khẩu không còn đủ để cạnh tranh, Hàn Quốc chuyển mạnh sang nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước.
Samsung là ví dụ quen thuộc nhưng vẫn đáng nhắc lại. Khi bước vào ngành bán dẫn đầu thập niên 1980, Samsung chưa có công nghệ lõi, phải mua thiết kế 64K DRAM và công nghệ quy trình từ các công ty Mỹ. Nếu dừng ở đó, Samsung sẽ chỉ là một xưởng gia công. Nhưng họ lập cơ sở R&D tại thung lũng Silicon (Mỹ), tuyển kỹ sư Hàn kiều, đưa kỹ sư trong nước sang trực tiếp học thiết kế. Chỉ hơn một thập niên, từ vị thế đi sau, Samsung đã có những thế hệ DRAM (một loại bộ nhớ bán dẫn) thuộc nhóm tiên tiến nhất thế giới.
Quay lại với Việt Nam, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một thành công lớn trong những năm qua. Riêng trong điện tử và bán dẫn, các tập đoàn quốc tế tạo ra nền tảng sản xuất và chuẩn chất lượng mà doanh nghiệp trong nước khó tự hình thành trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, chúng ta cần thiết đặt ra câu hỏi: FDI đã được chuyển hóa thành năng lực nội địa đến đâu.
Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nêu rõ một trong các định hướng: “Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu…”.
Trong ngành bán dẫn, chúng ta cần phân biệt "công nghệ sản xuất tại Việt Nam" với "năng lực công nghệ thuộc về Việt Nam". Một con chip có thể ra đời trong nhà máy hiện đại, bởi kỹ sư Việt Nam, đạt chuẩn toàn cầu. Nhưng kiến trúc sản phẩm, công nghệ lõi, lộ trình, ngân sách R&D, quyền quyết định kỹ thuật và sở hữu trí tuệ - những thứ quyết định khả năng làm ra thế hệ tiếp theo - vẫn có thể nằm ở nơi khác.
Kỹ sư Việt Nam có thể vận hành, sửa lỗi, cải tiến rất tốt trong phạm vi được giao. Nhưng chúng ta phần lớn làm theo "công thức của người khác", thì vốn FDI có thể vẫn tạo ra nhiều việc làm kỹ thuật song không tạo ra nhiều cầu đối với những người có khả năng xác lập bài toán và quyết định công nghệ.
Đây là điểm chúng tôi muốn nhấn mạnh: Nút thắt không chỉ ở phía cung người giỏi, mà ở phía cầu. Nhân tài không được tạo ra trong lớp học. Họ trưởng thành khi nền kinh tế có những bài toán đủ khó, doanh nghiệp có nguồn lực để thử nghiệm, nhóm nghiên cứu có quyền tự chủ, và kết quả nghiên cứu có đường đi vào sản xuất.
Doanh nghiệp Hàn Quốc, dưới sức ép xuất khẩu và cạnh tranh quốc tế, buộc phải liên tục nâng năng suất, nội địa hóa vật liệu và thiết bị, phát triển sản phẩm mới, xây R&D của chính mình. Chính quá trình nâng cấp ấy tạo ra nhu cầu không ngừng đối với kỹ sư và nhà khoa học ở những nấc ngày càng cao.
Bài học lớn nhất từ Hàn Quốc không phải là mở thêm bao nhiêu ngành hay cấp bao nhiêu học bổng, mà là tạo ra một nền kinh tế thực sự cần nhân tài để làm chủ công nghệ.
Điều này không có nghĩa là từ bỏ lợi thế sản xuất đang có, càng không phải lập tức làm chủ mọi công nghệ tiên tiến. Chúng tôi hình dung một chiến lược hai tầng: tiếp tục khai thác FDI và các khâu sản xuất để tích lũy kỹ năng, tiêu chuẩn, thị trường; đồng thời dồn nguồn lực cho nghiên cứu, thiết kế và một số công nghệ, sản phẩm có khả năng tạo lợi thế.
Cụ thể, mỗi lĩnh vực chiến lược cần một "danh mục nhiệm vụ làm chủ" và một "bản đồ công việc công nghệ" cho 5-10 năm tới. Với bán dẫn, đó là câu hỏi Việt Nam muốn làm chủ khâu nào: Thiết kế chip, đóng gói tiên tiến, vật liệu, thiết bị hay phần mềm thiết kế; và từ đó, cần bao nhiêu vị trí R&D, bao nhiêu nhóm kỹ sư do người Việt dẫn dắt, bao nhiêu doanh nghiệp có ngân sách R&D thật.
Khi doanh nghiệp trong nước chưa tự tạo đủ cầu, Nhà nước phải là người đặt bài toán và tạo thị trường ban đầu: tài trợ theo nhiệm vụ, đồng tài trợ cạnh tranh, mua sắm công cho đổi mới sáng tạo, cơ chế thử nghiệm - ưu tiên những chương trình có doanh nghiệp Việt cùng xác lập bài toán, cùng đầu tư và tiếp nhận kết quả.
Chúng ta không chỉ cần đào tạo người giỏi, mà cần tạo ra những nơi người giỏi có thể làm việc lớn.
Tác giả:
* TS Phạm Mạnh Hùng là giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội).
* Ông Đinh Long Nhật đang công tác ở Appen VN về dữ liệu AI. Tốt nghiệp Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông nghiên cứu về quản trị chiến lược, nhân tài, chuyển đổi số và chính sách công.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!