Bỏ qua điều hướng
•

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô , kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản x...

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,52%

Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính tại cuộc họp báo Công bố số liệu thống kê kinh tế-xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,62% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng 9 tăng 4,20% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,32%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,24%; giáo dục tăng 3,44%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,55%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,18%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,58%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,90%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,59%; giao thông tăng 7,73%.

CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng CPI tháng 9/2026 so với tháng trước (%). (Nguồn: Cục Thống kê)
Tốc độ tăng CPI tháng 9/2026 so với tháng trước (%). (Nguồn: Cục Thống kê)

Lạm phát cơ bản tháng 9 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ biến động cùng chiều với giá thế giới

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng 9 (tính đến ngày 25/9/2026) ở mức 4.434,45 USD/ounce, tăng 1,31% so với tháng 8, chủ yếu do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm và dòng vốn đầu tư vào các quỹ vàng tăng. Bên cạnh đó, căng thẳng địa chính trị làm gia tăng nhu cầu đối với tài sản trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9 tăng 2,38% so với tháng trước; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; giảm 4,04% so với tháng 12/2025; bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng 9 (tính đến ngày 25/9/2026) đạt mức 99,5 điểm, giảm 0,16 điểm so với tháng 8, trong bối cảnh kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Mỹ thay đổi và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 giảm 0,69% so với tháng trước; giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước; giảm 1,07% so với tháng 12/2025; bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất diễn biến phức tạp

Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh tác động của biến động giá trên thị trường quốc tế và sự phục hồi của hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nước.

Quý III, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2026 giảm 1,16% so với quý trước và tăng 4,20% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,47% so với quý trước và tăng 4,75% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất dịch vụ giảm 0,13% so với quý trước và tăng 4,14% so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất giảm 0,13% so với quý trước và tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý III/2026 tăng 4,40% so với quý trước và tăng 5,87% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 (%). (Nguồn: Cục Thống kê)
Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 (%). (Nguồn: Cục Thống kê)

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý III/2026 tăng 1,53% so với quý trước và tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT) quý III/2026 tăng 2,83% so với quý trước và giảm 0,04% so với cùng kỳ năm 2025. TOT chín tháng năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước do tốc độ tăng chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa cao hơn chỉ số giá xuất khẩu. Diễn biến này cho thấy chi phí nhập khẩu tăng nhanh hơn giá hàng hóa xuất khẩu, qua đó tạo sức ép lên điều kiện thương mại. Nguyên nhân chủ yếu liên quan giá năng lượng, nguyên liệu và linh kiện trên thị trường thế giới vẫn ở mức cao trong bối cảnh biến động địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế.

NHA TRANG

Xét theo từng nhóm hàng hóa trong quý III/2026, nhóm giao thông dẫn đầu tốc độ tăng với 7,73%, tiếp theo là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,59%, trong khi nhóm thuốc và dịch vụ y tế ghi nhận mức tăng thấp nhất là 1,32%. Bên cạnh đó, lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước, giữ mức thấp hơn tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân chung. Sự chênh lệch này xuất phát từ việc các mặt hàng biến động mạnh như xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống và dịch vụ y tế đã được loại trừ khỏi danh mục tính lạm phát cơ bản. Trên thị trường tài sản, chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng đầu năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước, đồng điệu với đà tăng của giá vàng thế giới lên mức 4.434,45 USD/ounce trong tháng 9. Trái ngược với thị trường vàng, chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 9 tháng chỉ tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời giảm 0,69% trong tháng 9 so với tháng trước đó. Sự suy yếu của đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ giảm đã thúc đẩy dòng vốn đầu tư chảy vào các tài sản trú ẩn an toàn trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng. Song song với chỉ số giá tiêu dùng, các chỉ số giá sản xuất cùng giá xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong quý III/2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,16% so với quý trước nhưng vẫn tăng 4,20% so với cùng kỳ. Những diễn biến này phản ánh tác động từ sự phục hồi của hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nước, đồng thời đặt ra yêu cầu theo dõi sát áp lực chi phí để bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.