Cụ thể, năng suất và sản lượng lúa đều tăng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu được duy trì; nuôi trồng thủy sản duy trì tăng trưởng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao.
Số liệu thống kê cụ thể chỉ ra, vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 1.861,6 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2025. Diện tích lúa hè thu năm nay giảm so với vụ hè thu năm trước chủ yếu do chuyển đổi 10,9 nghìn ha sang trồng cây hằng năm khác, cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản; 4,9 nghìn ha sang gieo cấy vụ khác do chậm tiến độ; 3,3 nghìn ha sang mục đích phi nông nghiệp; 3,9 nghìn ha do ảnh hưởng của thời tiết và 13,8 nghìn ha bỏ hoang, không gieo cấy.
Tính đến ngày 20/9/2026, cả nước thu hoạch được 1.819,5 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 97,7% diện tích xuống giống, giảm 7,4 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất gieo trồng lúa hè thu cả nước ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha. Một số địa phương có năng suất lúa hè thu tăng khá so với cùng vụ năm 2025: Hà Tĩnh tăng 18,9 tạ/ha; Nghệ An tăng 10,2 tạ/ha; Đắk Lắk tăng 2,4 tạ/ha; Gia Lai tăng 1,2 tạ/ha. Sản lượng lúa hè thu cả nước năm 2026 ước đạt gần 11 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn so với vụ hè thu 2025.
Cũng tính đến ngày 20/9/2026, cả nước đã gieo cấy được 1.337,1 nghìn ha lúa mùa, giảm 45 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích lúa mùa giảm chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, phục vụ xây dựng công trình công cộng, khu công nghiệp. Ngoài ra, một số diện tích vụ mùa không gieo cấy được do điều kiện sản xuất khó khăn, ảnh hưởng của thời tiết và nguồn nước.
Cùng thời điểm tính đến ngày 20/9/2026, các địa phương đã gieo sạ được 474,1 nghìn ha lúa thu đông, giảm 130,7 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Tiến độ gieo trồng lúa thu đông chậm hơn cùng kỳ năm trước do nhiều địa phương chủ động bố trí lịch xuống giống muộn hơn nhằm tránh mưa bão, đồng thời triều cường xuất hiện sớm hơn thường lệ khiến một số diện tích chưa thể xuống giống.
Cùng với việc gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước đang tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Diện tích gieo trồng một số loại cây như ngô, khoai lang, lạc giảm so với cùng kỳ năm trước do hiệu quả kinh tế không cao nên nông dân thu hẹp diện tích sản xuất.
Sản xuất cây lâu năm 9 tháng năm 2026 đạt khá nhờ một số diện tích cây lâu năm, nhất là cây ăn quả, bị ảnh hưởng do mưa bão năm trước đã được khôi phục, đồng thời mở rộng diện tích nhờ chuyển đổi từ cây hằng năm kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, điều kiện sinh trưởng thuận lợi và cải thiện kỹ thuật canh tác góp phần nâng cao năng suất cây trồng so với cùng kỳ năm 2025.
Công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được đẩy mạnh, góp phần nâng cao giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản. Đến ngày 30/8/2026, cả nước có 10.252 mã số vùng trồng và 1.841 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nhiều loại nông sản sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác.
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có đạt 3.891 nghìn ha, tăng 40,8 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm 2025. Nhóm cây ăn quả tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực khi nhiều diện tích đã đến kỳ cho sản phẩm ổn định, sản lượng tăng khá.
Cũng theo thống kê, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao.
Chăn nuôi lợn chịu tác động đan xen của các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Giá lợn hơi xuất chuồng có xu hướng tăng, tạo điều kiện để người chăn nuôi duy trì sản xuất và tái đàn trong khi đó giá thức ăn chăn nuôi tăng trong chín tháng làm gia tăng chi phí đầu vào, gây áp lực đến hiệu quả chăn nuôi.
Một số địa phương có đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Gia Lai tăng 13,2%; Tuyên Quang tăng 12,2%; Phú Thọ tăng 10,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,9%.
Trưởng ban Đậu Ngọc Hùng nhận định, chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ khả năng thích ứng tương đối tốt với biến động của thị trường, chu kỳ nuôi ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng cơ bản ổn định. Việc phát triển chăn nuôi trang trại khép kín và liên kết với doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao khả năng kiểm soát dịch bệnh.
Để ngành chăn nuôi phát triển bền vững, Trưởng ban Đậu Ngọc Hùng cho hay, người chăn nuôi cần kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ, chế biến tạo thành chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn; tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có để thay thế một phần thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng phụ phẩm để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, qua đó không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn giảm chi phí đầu vào và nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi.
Tính đến ngày 25/9/2026, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch viêm da nổi cục còn ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Đắk Lắk; dịch cúm gia cầm còn ở 6 địa phương và dịch tả lợn châu Phi còn ở 22 địa phương chưa qua 21 ngày.
Trong quý III/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 70,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2025; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19,9 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm 2025; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 7.089,4 nghìn m3, tăng 6%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 215,8 nghìn ha, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025, do cùng kỳ năm 2025 một số địa phương đẩy mạnh trồng lại diện tích rừng bị thiệt hại sau bão số 3 (Yagi) khiến quỹ đất rừng trồng mới giảm.
Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 71,3 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 18.901 nghìn m3, tăng 5,3% do giá gỗ nguyên liệu ở mức cao và tương đối ổn định khuyến khích người dân đẩy mạnh khai thác diện tích đến tuổi thu hoạch.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong quý III/2026 là 751,1ha, tăng 4,3 lần so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, cả nước có 1.146,9ha rừng bị thiệt hại, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng thủy sản quý III/2026 ước đạt 2.851,8 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III/2026 ước đạt 1.822,9 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng cá tra tăng nhờ hoạt động chế biến và xuất khẩu duy trì đà tăng tại các thị trường Trung Quốc, EU, CPTPP, Nhật Bản, Anh. Bên cạnh đó, giá bán cá tra trong quý III/2026 tăng, đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi. Sản lượng cá tra quý III/2026 ước đạt 496,2 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2025; tính chung 9 tháng năm 2026 ước đạt 1.431,6 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Sản lượng tôm tăng so với cùng kỳ năm 2025 nhờ mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh và ứng dụng hiệu quả công nghệ cao được mở rộng, đồng thời đang bước vào thời điểm thu hoạch chính vụ. Sản lượng tôm thẻ chân trắng quý III/2026 ước đạt 396,6 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng tôm sú đạt 93,7 nghìn tấn, tăng 4,6%. Tính chung 9 tháng năm 2026, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 940,8 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng tôm sú đạt 261,3 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Ngoài các sản phẩm chủ lực là cá tra và tôm nước lợ, cá rô phi tiếp tục là một trong những mặt hàng có tiềm năng phát triển phục vụ chế biến và xuất khẩu. Sản lượng cá rô phi chín tháng năm 2026 tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng thủy sản khai thác trong quý III/2026 ước đạt 1.028,9 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.901,6 nghìn tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2025.
HÂN NGUYỄN