Bỏ qua điều hướng
•

Sử dụng năng lượng tiết kiệm để doanh nghiệp giảm áp lực chi phí

Sử dụng năng lượng tiết kiệm để doanh nghiệp giảm áp lực chi phí
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Chi phí năng lượng đang tác động trực tiếp đến giá thành và sức cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất. Trao đổi với PV báo Tiền Phong, TS. Phạm Viết Thuận — Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM cho rằng, cần tạo cơ chế để doanh nghiệp chủ động nguồn năng lượng, nhất là năng lượng t...

Thưa ông, hiệu quả sử dụng năng lượng đang tác động như thế nào đến chi phí và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?

Tất cả các đơn vị sản xuất đều phụ thuộc vào nguồn điện. Có những doanh nghiệp sản xuất lớn phải chi hàng tỷ đồng/tháng cho tiền điện, nên chỉ cần chi phí năng lượng biến động là giá thành sản phẩm sẽ chịu áp lực lớn.

Đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, điện không chỉ là chi phí đầu vào mà còn là yếu tố thiết yếu để duy trì quy trình sản xuất liên tục. Khi chi phí điện tăng, giá thành sản phẩm tăng theo, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, các nhà đầu tư nước ngoài tính toán chi phí đầu vào rất kỹ. Nếu chi phí điện tại Việt Nam quá cao, họ có thể cân nhắc lại việc đầu tư và chuyển sang các thị trường khác. Do đó, đây không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp mà còn liên quan đến môi trường đầu tư và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo ông, những hạn chế phổ biến trong sử dụng năng lượng tại các doanh nghiệp hiện nay là gì?

Trong quy trình sản xuất, một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài làm khá chuẩn. Nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp đều phải tính toán rất chi ly mức tiêu thụ của từng thiết bị, động cơ ngay từ đầu vào.

Vấn đề hiện nay là giá điện biến động làm thay đổi bài toán chi phí dự toán. Ngoài chi phí mua điện trên lưới, doanh nghiệp còn phải gánh các chi phí liên quan đến hệ thống điện nội bộ. Nếu chi phí năng lượng chiếm tỷ trọng quá lớn, sản phẩm sẽ rất khó cạnh tranh. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, một số doanh nghiệp đã phải thu hẹp quy mô, hạn chế sản xuất hoặc chuyển một phần gia công sang thị trường khác.

a1.jpg
TS. Phạm Viết Thuận — Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM

Với các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng, hóa chất, dệt may, chế biến thực phẩm, điện tử… giải pháp tiết kiệm năng lượng nên được thiết kế như thế nào?

Giải pháp cho doanh nghiệp phải dựa trên đặc thù từng nhóm ngành. Công nghiệp nặng tiêu thụ năng lượng lớn nhất, sau đó mới đến công nghiệp nhẹ và dịch vụ.

Đối với công nghiệp nặng (xi măng, thép...) do các nhà máy có nhu cầu điện rất lớn nên chiến lược tối ưu là tự đầu tư hệ thống phát điện tại chỗ (như tận dụng nhiệt dư) để phục vụ chính mình, giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn năng lượng.

Đối với công nghiệp nhẹ (may mặc, dịch vụ, điện tử...) thì giải pháp chủ yếu là thay đổi thiết bị cũ bằng thiết bị hiệu suất cao (như thay hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED, đổi động cơ thế hệ mới) và tự động hóa dây chuyền để giảm cường độ sử dụng điện mà không làm giảm sản lượng.

Theo ông, trong cơ chế, chính sách hiện nay, đâu là điểm cần cải thiện để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư tiết kiệm năng lượng?

Tôi cho rằng, quan trọng nhất là phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động về nguồn năng lượng tại chỗ. Trước đây, việc phát triển điện gió, điện mặt trời còn vướng rào cản. Trong Quy hoạch điện VIII, chúng ta cần làm rõ hơn cơ chế để doanh nghiệp yên tâm đầu tư năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất.

Muốn phát triển điện mặt trời mái nhà, Nhà nước phải có cơ chế rõ ràng về quy trình đầu tư, đăng ký và đấu nối với hệ thống điện lưới. Nếu có cơ chế thuận lợi, các doanh nghiệp phía Nam có sẵn nhà xưởng hoàn toàn có thể tự đầu tư. Điều này vừa giúp doanh nghiệp giảm chi phí, vừa tiết kiệm nguồn điện quốc gia và giảm phát thải CO2.

a2.png
TPHCM khuyến khích cơ sở sản xuất, người dân lắp hệ thống điện mặt trời mái nhà. Ảnh: EVNSPC

Để những giải pháp này đi vào thực tế, các cơ quan quản lý và ngành điện cần làm gì?

Chính sách phải cụ thể bằng hành động chứ không thể chỉ nói kêu gọi tiết kiệm điện chung chung. Bộ Công Thương cần đóng vai trò trực tiếp cụ thể hóa cơ chế. EVN và các đơn vị liên quan phải có hướng dẫn hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư, đấu nối an toàn.

Cần lưu ý điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết, lúc không đủ nguồn doanh nghiệp bắt buộc phải dùng điện lưới. Do đó, cần có cơ chế đo đếm và chuyển đổi linh hoạt giữa nguồn điện tại chỗ với điện lưới. Cơ chế này thuận lợi thì doanh nghiệp mới có động lực dốc vốn đầu tư.

Về vấn đề tín dụng và nguồn vốn cho các dự án tiết kiệm năng lượng cần được giải quyết ra sao, thưa ông?

Tài chính là yếu tố rất quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng cần có cơ chế cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với lãi suất phù hợp cho các dự án năng lượng. Khi có nguồn vốn tốt, doanh nghiệp có thể triển khai ngay hệ thống điện mặt trời áp mái để giảm tiền điện và giảm áp lực cho hệ thống điện lưới quốc gia mà không cần chờ đợi các dự án vĩ mô lớn hơn.

Dưới góc nhìn chuyên gia, theo ông, làm thế nào để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa khuyến khích doanh nghiệp tham gia chuyển dịch năng lượng sạch?

An ninh năng lượng là yêu cầu tối thượng, không thể để thiếu điện làm ảnh hưởng đến sản xuất. Nhưng muốn tiết kiệm điện hiệu quả thì phải kéo doanh nghiệp cùng tham gia. Doanh nghiệp tự đầu tư nguồn điện tại chỗ sẽ giúp giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia. Vì vậy, cần hài hòa lợi ích giữa các bên. Không nên nhìn việc doanh nghiệp tự phát điện dưới góc độ ngành điện bị giảm sản lượng bán, mà phải nhìn rộng hơn: doanh nghiệp giảm chi phí thì giá thành hạ, sức cạnh tranh tăng lên và nền kinh tế chung được hưởng lợi.

Theo ông, doanh nghiệp nên đi theo lộ trình nào để vừa tiết kiệm năng lượng, vừa bảo đảm năng suất?

Tiết kiệm năng lượng ra sao, quy mô thế nào trước hết phụ thuộc vào quyết tâm của người đứng đầu doanh nghiệp. Về chuyên môn, doanh nghiệp cần kiểm toán để xác định rõ khâu nào đang tiêu thụ và lãng phí năng lượng nhiều nhất, từ đó chọn giải pháp phù hợp: lắp điện mặt trời mái nhà, thay thế động cơ hiệu suất cao hay tự động hóa dây chuyền.

Về phía quản lý, Bộ Công Thương cần hoàn thiện cơ chế trong Quy hoạch điện VIII, xác định lợi thế tự nhiên từng vùng để phát triển điện mặt trời áp mái. Địa phương cần hỗ trợ thủ tục trực tiếp, ngân hàng cần có chính sách tín dụng xanh phù hợp.

Mục tiêu cuối cùng là giảm chi phí để nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn đạt hiệu quả thực chất, cần hoàn thiện thị trường điện, giảm rào cản hành chính và tăng tính minh bạch để Nhà nước, doanh nghiệp cùng ngành điện cùng tham gia đồng bộ.

Xin cảm ơn ông!

Chi phí năng lượng đang trở thành biến số tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh của toàn bộ khối doanh nghiệp sản xuất. Đối với các đơn vị quy mô lớn phải chi trả hàng tỷ đồng tiền điện mỗi tháng, sự biến động của giá điện không chỉ làm đảo lộn dự toán tài chính mà còn đe dọa trực tiếp môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế này đã buộc một số đơn vị phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển dịch một phần hoạt động gia công sang các thị trường khác. Trao đổi về vấn đề này, TS. Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM, nhấn mạnh lộ trình tối ưu hóa năng lượng cần được thiết kế dựa trên đặc thù từng nhóm ngành. Các lĩnh vực công nghiệp nặng như thép hay xi măng cần ưu tiên chiến lược tự đầu tư hệ thống phát điện tại chỗ thông qua giải pháp tận dụng nhiệt dư. Ngược lại, nhóm ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và điện tử nên tập trung thay thế động cơ thế hệ mới, chuyển đổi hệ thống chiếu sáng LED và tự động hóa dây chuyền. Bên cạnh nỗ lực nội tại của doanh nghiệp, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý giữ vai trò quyết định trong việc khơi thông nguồn lực đầu tư. Giới chuyên gia kiến nghị Quy hoạch điện VIII cần làm rõ hơn cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ các đơn vị sản xuất chủ động phát triển nguồn năng lượng tái tạo tại chỗ, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà. Một hành lang pháp lý minh bạch sẽ là đòn bẩy căn bản giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng chi phí đầu vào và củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường.
amung