Theo Cục Thống kê, năm 2025 Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so năm 2024. Quy mô thị trường tăng tạo thêm việc làm, nhưng đồng thời nâng chuẩn cạnh tranh giữa các điểm đến.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Như vậy, bài toán đào tạo không thể dừng ở cung cấp đủ lao động; điều quyết định là người học sau tốt nghiệp có thể làm việc ngay, thích ứng với thay đổi và duy trì chất lượng dịch vụ trong môi trường quốc tế.
Mạng lưới đào tạo đã có quy mô đáng kể. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dẫn số liệu của Liên chi hội Đào tạo du lịch Việt Nam cho biết cả nước có khoảng 195 cơ sở đào tạo du lịch, gồm 65 trường đại học, 55 trường cao đẳng, 71 trường trung cấp và 4 trung tâm đào tạo nghề, bên cạnh hai cơ sở trực thuộc doanh nghiệp.
Đây là nền tảng quan trọng, song số lượng cơ sở chưa tự động chuyển hóa thành chất lượng cung ứng. Sự khác biệt về thiết bị thực hành, kinh nghiệm giảng viên, thời lượng học tại doanh nghiệp và chuẩn đánh giá khiến năng lực người học cùng ngành nghề có thể không đồng đều.
Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế
Khoảng cách thứ nhất nằm giữa chương trình và công việc thực tế. Nhiều chương trình vẫn được tổ chức theo logic môn học, trong khi doanh nghiệp tuyển người theo vị trí việc làm và năng lực thực hiện.
Một sinh viên có thể hoàn thành học phần quản trị khách sạn nhưng chưa thành thạo hệ thống quản lý tài sản, xử lý phản hồi đa kênh hoặc phối hợp giữa lễ tân, buồng và bộ phận doanh thu. Vì vậy, chuẩn đầu ra cần được mô tả bằng hành vi nghề nghiệp quan sát được: thực hiện việc gì, trong điều kiện nào, ở mức chất lượng nào và bằng chứng đánh giá là gì.
Khoảng cách thứ hai là năng lực số. Chuyển đổi số trong đào tạo không đồng nghĩa với chuyển bài giảng sang tệp điện tử.
Người học cần sử dụng công cụ số gắn với nghề: hệ thống PMS, POS, CRM, nền tảng phân phối trực tuyến, công cụ quản trị doanh thu, phân tích phản hồi khách hàng và trí tuệ nhân tạo tạo sinh.
Quan trọng hơn, họ phải biết kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện sai lệch và sử dụng công nghệ có trách nhiệm.
Nếu năng lực số chỉ nằm trong một môn tin học đại cương, chương trình sẽ tiếp tục đi sau hoạt động vận hành của doanh nghiệp.
Khoảng cách thứ ba là ngoại ngữ nghề nghiệp và năng lực liên văn hóa. Ngoại ngữ trong du lịch không chỉ để đạt một chứng chỉ mà để giải thích sản phẩm, tư vấn, thuyết phục, giải quyết sự cố và giao tiếp phù hợp với khách thuộc các nền văn hóa khác nhau.
Do đó, đào tạo ngoại ngữ cần được tích hợp vào tình huống nghề, phòng thực hành và học kỳ doanh nghiệp. Cùng với đó là hiểu biết về hành vi thị trường khách, nghi thức giao tiếp và khả năng làm việc trong nhóm đa văn hóa.
Mô hình phù hợp cho giai đoạn mới là đào tạo dựa trên năng lực, trong đó kiến thức chỉ là một thành tố của khả năng hoàn thành công việc.
Mỗi chương trình cần xây dựng ma trận gồm sáu nhóm: năng lực nghiệp vụ; năng lực số; ngoại ngữ và giao tiếp liên văn hóa; kỹ năng giải quyết vấn đề; năng lực xanh và trách nhiệm xã hội; đạo đức nghề nghiệp. Các nhóm này phải được phân bổ xuyên suốt học phần, thay vì bổ sung rời rạc vào cuối chương trình.
Trụ cộtCách tổ chức đào tạo
Bằng chứng đầu ra
Nghiệp vụ
Mô phỏng, dự án và thực hành tại doanh nghiệp
Bài thực hành theo tiêu chí nghề
Công nghệ
Dùng PMS, POS, CRM, OTA và AI trong môn nghề
Sản phẩm số và nhật ký thao tác
Ngoại ngữ
Giao tiếp theo tình huống dịch vụ
Phỏng vấn, thuyết trình và xử lý sự cố
Năng lực xanh
Tiết kiệm tài nguyên, an toàn và trách nhiệm cộng đồng
Dự án cải tiến vận hành bền vững
Hội nhập
Đối sánh chuẩn nghề ASEAN
Hồ sơ năng lực có thể công nhận
Khung tích hợp năng lực trong chương trình đào tạo du lịch.
Ở cấp khu vực, Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN hướng tới tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động du lịch có kỹ năng và thúc đẩy đào tạo dựa trên năng lực.
Giá trị của khung ASEAN không chỉ nằm ở khả năng dịch chuyển, mà còn ở việc cung cấp ngôn ngữ chung để cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan đánh giá mô tả năng lực nghề.
Các trường cần lập bản đồ đối sánh giữa chuẩn đầu ra của từng nghề với tiêu chuẩn năng lực chung ASEAN, qua đó nhận diện phần thiếu và thiết kế lộ trình công nhận kỹ năng.
Liên kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo
Doanh nghiệp cần tham gia vào bốn thời điểm. Trước tuyển sinh, doanh nghiệp cung cấp dự báo vị trí việc làm và kỹ năng thiếu hụt.
Trong xây dựng chương trình, chuyên gia nghề cùng xác định tiêu chí năng lực, công nghệ và tình huống cần đưa vào học phần.
Trong quá trình đào tạo, khách sạn, nhà hàng, doanh nghiệp lữ hành và điểm đến trở thành không gian thực hành vệ tinh; chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn dự án và cập nhật quy trình. Khi đánh giá, doanh nghiệp cùng xác nhận năng lực tại nơi làm việc và cung cấp dữ liệu về tỷ lệ có việc làm, thời gian thích nghi, điểm mạnh và kỹ năng cần bồi dưỡng.
Để hợp tác không mang tính hình thức, trách nhiệm và lợi ích của các bên phải được quy định rõ. Nhà trường chịu trách nhiệm về chuẩn học thuật, phương pháp sư phạm và bảo đảm chất lượng; doanh nghiệp bố trí người hướng dẫn, vị trí thực hành và điều kiện an toàn; người học thực hiện nhiệm vụ, ghi nhật ký và cung cấp bằng chứng năng lực.
Hiệp hội nghề nghiệp có thể làm đầu mối xây dựng chuẩn, đào tạo đánh giá viên và kết nối nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhà nước tạo hành lang để công nhận kết quả học tại nơi làm việc, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo và bảo vệ quyền lợi của người học.
Mô hình đào tạo kép và học kỳ doanh nghiệp chỉ có giá trị khi việc thực hành được thiết kế như một học phần có mục tiêu, tiêu chí và phản hồi, thay vì sử dụng sinh viên như lao động thời vụ. Mỗi nhiệm vụ phải gắn với chuẩn đầu ra, có người hướng dẫn và được đánh giá bởi cả giảng viên lẫn cán bộ doanh nghiệp.
Dữ liệu đánh giá sau thực tập cần quay trở lại chương trình, giúp cơ sở đào tạo xác định kỹ năng yếu, điều chỉnh thiết bị và bồi dưỡng giảng viên. Đây là vòng phản hồi quan trọng để chất lượng đào tạo cải thiện liên tục.
Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch
Thứ nhất, cần xây dựng cơ sở dữ liệu cung-cầu nhân lực du lịch theo nghề, trình độ và vùng. Dữ liệu tuyển dụng, tiền lương, kỹ năng thiếu hụt và việc làm sau tốt nghiệp phải được chia sẻ giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Đây là căn cứ để điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, mở hoặc thu hẹp ngành nghề và cập nhật chương trình.
Thứ hai, chuẩn đầu ra phải được thiết kế theo vị trí việc làm và đánh giá bằng bằng chứng. Mỗi chương trình cần công bố ma trận năng lực, tỷ lệ thực hành, tiêu chí đánh giá tại doanh nghiệp và tỷ lệ người học có việc làm đúng hoặc gần ngành. Kiểm định chất lượng nên xem xét sâu mức độ doanh nghiệp tham gia và sự tiến bộ của người học, thay vì chỉ dựa vào điều kiện đầu vào.
Thứ ba, ngoại ngữ, công nghệ và năng lực xanh phải được tích hợp trong từng môn nghề. Sinh viên lễ tân học ngoại ngữ qua quy trình nhận phòng và xử lý phản hồi của khách hàng; sinh viên nhà hàng học qua tư vấn thực đơn, quản lý POS và giảm lãng phí; sinh viên lữ hành học qua thiết kế hành trình số, phân tích thị trường và quản trị rủi ro. Sự tích hợp này giúp người học hiểu công nghệ và bền vững như một phần của chất lượng dịch vụ, không phải nội dung phụ trợ.
Tăng trưởng du lịch chỉ bền vững khi đi cùng tăng trưởng về năng lực con người. Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực du lịch vì thế phải chuyển trọng tâm từ số lượng tuyển sinh và thời lượng chương trình sang năng lực thực hiện, khả năng thích ứng và chất lượng việc làm. Mối liên kết dữ liệu thị trường-chuẩn nghề-chương trình-doanh nghiệp-đánh giá đầu ra cần trở thành trục vận hành của toàn hệ thống.
Để tạo chuyển biến, cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp phải cùng chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra. Cơ sở dữ liệu nhân lực giúp dự báo đúng; chuẩn nghề tạo ngôn ngữ chung; đào tạo tại doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách kỹ năng; còn hồ sơ năng lực và công nhận kết quả học tập tạo động lực học tập suốt đời.
Khi các mắt xích này vận hành đồng bộ, đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng trước mắt mà còn nâng khả năng đổi mới, chất lượng việc làm và năng lực cạnh tranh dài hạn của du lịch Việt Nam.
Giáo sư, Tiến sĩ ĐÀO MẠNH HÙNG
Chủ tịch Liên chi hội Đào tạo du lịch Việt Nam