Thịt nhập khẩu bày bán la liệt trên mặt đường
Sáng 5/10, ghi nhận tại Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn (xã Xuân Thới Đông, TPHCM), một số sạp kinh doanh thịt heo nhập khẩu bày hàng ngay trên nền chợ.
Nhiều loại chân, móng và các phần thịt heo được đặt trực tiếp trên những tấm bìa carton hoặc nền sàn. Hoạt động mua bán diễn ra khá đơn sơ, với thùng xốp, rổ nhựa và túi nylon màu đen được sử dụng để chứa sản phẩm.
Ghi nhận tại đây không thấy hệ thống tủ mát, bàn inox hoặc thiết bị giữ lạnh chuyên dụng, cũng không thấy kho lạnh riêng biệt để duy trì nhiệt độ ổn định cho sản phẩm sau cấp đông.

Thịt nhập khẩu để trên sàn nhà với la liệt các vật dụng khác như thùng carton đã qua sử dụng, ki hốt rác và chổi quét sàn (Ảnh: Nam Bình).
Tình trạng tương tự tại một kho lạnh chuyên cung cấp thực phẩm đông lạnh trên đường Tỉnh lộ 43 (phường Tam Bình, TPHCM). Một số thùng thịt còn đông cứng được đặt trực tiếp trên sàn. Khi khách mua, nhân viên mở thùng giấy, lấy từng tảng thịt còn đông lạnh cho vào túi nylon màu đen, cân và tính tiền.
Nhân viên tại đây cho biết, thịt nhập khẩu thường có hạn sử dụng 12-24 tháng và được cấp đông sâu nên thời gian bảo quản dài. Tuy nhiên, cũng theo người này, phần lớn thịt nhập khẩu sau khi được kho cung cấp cho các sạp tại chợ truyền thống sẽ được rã đông trước khi bán.
Trao đổi với Dân trí, ông Đặng Hoàng Dự - chuyên gia tư vấn quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, thành viên Hiệp hội Ẩm thực TPHCM, thông tin thịt nhập khẩu khi đưa vào Việt Nam phải tuân thủ các quy định về kiểm dịch, bảo quản và an toàn thực phẩm.
Để đảm bảo chất lượng, thịt đông lạnh phải được duy trì trong điều kiện cấp đông theo quy định. Khi rã đông, thịt cần được bảo quản ở nhiệt độ phù hợp, khoảng 4-5 độ C.
“Đối với thịt đã cấp đông, sau khi rã đông nếu không được bảo quản đúng nhiệt độ, nguy cơ vi sinh vật phát triển, gây mất an toàn thực phẩm là rất lớn”, ông Dự phân tích. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi thịt đông lạnh được đưa ra bán tại chợ truyền thống, nơi điều kiện bảo quản ở nhiều điểm bán còn hạn chế.
Ông Dự cũng cho rằng, vấn đề không chỉ nằm ở chất lượng của thịt nhập khẩu mà quan trọng hơn là việc kiểm soát sản phẩm sau khi đã đưa ra thị trường.
Theo ông, rất khó yêu cầu các hộ kinh doanh nhỏ lẻ tại chợ truyền thống đầu tư đầy đủ hệ thống bảo quản lạnh nếu không có cơ chế kiểm soát và hạ tầng phù hợp.
Trong khi đó, người tiêu dùng khó nhận biết thịt đông lạnh đã được rã đông đúng quy trình hay chưa nếu sản phẩm được bán lẫn với thịt tươi mà không có thông tin rõ ràng về nguồn gốc.
Theo vị này, giấy kiểm dịch cũng không thể được xem là căn cứ duy nhất để đánh giá toàn bộ chất lượng sản phẩm sau khi đã lưu thông trên thị trường.

Xương heo có thịt nhập khẩu, giá bán 10.000 đồng/kg (Ảnh: Nam Bình).
“Đối với thịt mát, nhiệt độ sản phẩm phải được duy trì ở mức dưới 4-5 độ C, còn với thịt đông lạnh phải được vận chuyển bằng xe lạnh ở khoảng -12 đến -18 độ C. Sau rã đông, sản phẩm cũng cần giới hạn thời gian sử dụng để đảm bảo chất lượng”, ông cho biết.
Thịt trong nước thua ngay trên sân nhà
Sự xuất hiện ngày càng nhiều của thịt nhập khẩu tại kênh bán lẻ dù giúp cho người tiêu dùng có thêm lựa chọn, thế nhưng, cũng đang tạo thêm sức ép cho người chăn nuôi trong nước.
Theo ông Nguyễn Kim Đoán - Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai - trước đây thịt nhập khẩu chủ yếu được đưa về phục vụ chế biến. Tuy nhiên, hiện sản phẩm này xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường bán lẻ, cạnh tranh trực diện với sản phẩm nội địa.
“Chăn nuôi trong nước đang có dấu hiệu thua ngay trên sân nhà”, ông Đoán chua chát nói. Theo vị này, một trong những nguyên nhân khiến giá thành chăn nuôi trong nước cao là bất lợi về nguyên liệu thức ăn, chuỗi phân phối cũng như các vấn đề về năng suất.
Theo đó, Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, khiến chi phí đầu vào của doanh nghiệp trong nước chịu nhiều áp lực. Từ đầu tháng 10 vừa qua, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng thêm khoảng 400 đồng/kg và đây là lần tăng giá thứ 6 trong năm khiến nhiều trại nuôi không dám tái đàn vụ Tết sắp tới.
Một yếu tố khác là hệ thống phân phối. Với thịt heo sản xuất trong nước, từ trang trại đến tay người tiêu dùng phải qua nhiều khâu trung gian, từ thương lái thu mua heo đến đầu mối lò mổ, chợ đầu mối rồi mới đến điểm bán lẻ. Mỗi khâu đều phát sinh chi phí và lợi nhuận khiến giá bán tăng lên.

Thịt heo nhập khẩu bán trên lề đường ở Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn sáng ngày 5/10 (Ảnh: Nam Bình).
Ngược lại, chi phí vận chuyển thịt từ nước ngoài về Việt Nam hiện không quá lớn, chỉ khoảng 3.000-4.000 đồng/kg. Thịt nhập khẩu được đưa về các kho lớn rồi phân phối đến hệ thống bán buôn, bán lẻ. Thời gian bảo quản dài cũng giúp doanh nghiệp giảm áp lực phải tiêu thụ trong ngày.
Trong khi đó, thời gian bảo quản của thịt trong nước lại rất ngắn, người bán phải tiêu thụ sản phẩm trong ngày. Nếu không bán hết, thịt có thể giảm chất lượng hoặc phải hạ giá vào cuối ngày.
“Điều này cũng khiến người bán phải cộng thêm chi phí hao hụt vào giá thành, đẩy giá bán tăng lên ít nhất từ vài nghìn đồng đến vài chục nghìn mỗi kg”, ông Đoán nói.
Còn theo ông Đặng Hoàng Dự, dù là nước nông nghiệp nhưng thời gian qua, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm trong nước chọn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm như sản xuất xúc xích, giò chả, thịt chế biến, đồ hộp… từ nguồn thịt nhập khẩu.
Điều này là do đối với nhà máy thực phẩm, nguyên liệu không chỉ cần đủ về số lượng mà còn phải đúng chủng loại, quy cách pha lóc, tỷ lệ nạc - mỡ, chất lượng đồng nhất, đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm, truy xuất được nguồn gốc và cung ứng ổn định theo kế hoạch sản xuất.
Trong khi đó, chuỗi cung ứng thịt trong nước chưa phải lúc nào cũng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công nghiệp chế biến về sản lượng, quy cách pha lóc, mức độ đồng nhất, năng lực cấp đông, kho lạnh và khả năng cung ứng khối lượng lớn ổn định.
Do đó, ở một số phân khúc, thịt đông lạnh nhập khẩu đang bổ sung nguồn nguyên liệu mà chuỗi cung ứng trong nước chưa đáp ứng đầy đủ.
Thịt nhập khẩu cũng giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch tồn kho, ổn định công thức sản phẩm, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu và giảm phụ thuộc vào biến động nguồn cung từng ngày.
Tuy nhiên, khi sản phẩm rời khỏi hệ thống phân phối được kiểm soát để đi vào các điểm bán nhỏ lẻ, nguy cơ phát sinh vấn đề sẽ tăng lên nếu điều kiện bảo quản không được duy trì.
Do đó, ông Dự cho rằng, kiểm soát thịt nhập khẩu tại cửa khẩu, áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và yêu cầu hóa đơn đầu vào - đầu ra đối với doanh nghiệp là những biện pháp cần thiết nhưng chưa đủ.
“Điều quan trọng là phải kiểm soát được toàn bộ quá trình, từ nguồn gốc, vận chuyển, bảo quản đến bày bán. Không thể chỉ kiểm tra giấy tờ ở đầu vào rồi cho rằng sản phẩm đã được kiểm soát trong suốt quá trình lưu thông”, ông Dự nhấn mạnh.