Bỏ qua điều hướng
•

Thời của AI rồi, văn bằng 2 ngôn ngữ Anh không còn cần thiết để 'vào ra' sau đại học?

Thời của AI rồi, văn bằng 2 ngôn ngữ Anh không còn cần thiết để 'vào ra' sau đại học?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Nhiều người cho rằng cần xem xét lại việc sử dụng văn bằng 2 ngôn ngữ Anh để đáp ứng chuẩn ngoại ngữ đầu vào, đầu ra sau đại học, đồng thời điều chỉnh các quy định cho phù hợp với thực tiễn.

Văn bằng 2 ngôn ngữ Anh có còn cần thiết để học sau đại học?  - Ảnh 1.

Việc Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân yêu cầu người học chỉ được cấp bằng cử nhân ngôn ngữ Anh khi có chứng chỉ xác nhận đạt trình độ C1, thu hút sự quan tâm của nhiều người - Ảnh minh họa do AI tạo

Như Tuổi Trẻ đã đưa tin, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân yêu cầu người học ngành ngôn ngữ Anh phải đạt chứng chỉ C1 mới được cấp bằng cử nhân, khiến nhiều bạn đọc tiếp tục tranh luận về việc sử dụng văn bằng 2 ngôn ngữ Anh làm điều kiện ngoại ngữ đầu vào, đầu ra sau đại học.

Không nên biến chứng chỉ ngoại ngữ thành rào cản

Bạn đọc Quỳnh Hoa đặt vấn đề thử yêu cầu các giảng viên đại học có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, chức danh phó giáo sư, giáo sư thi thử xem có đạt chứng chỉ C1 tiếng Anh hay không.

Theo bạn đọc này, quy định về chuẩn đầu vào, đầu ra ngoại ngữ trong đào tạo sau đại học hiện nay không còn phù hợp. Công nghệ phát triển, các công cụ AI hỗ trợ dịch tài liệu và giao tiếp ngày càng thuận lợi. Vì vậy Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xem xét thay đổi yêu cầu ngoại ngữ, không nhất thiết duy trì những quy định như hiện nay.

Cùng quan điểm, bạn đọc ABC cho rằng: "Vấn đề là ở chỗ yêu cầu phải có chứng chỉ bằng cấp ngoại ngữ mới được học hoặc được tốt nghiệp sau đại học. 

Điều này khá vô lý, vì yêu cầu ngoại ngữ đặc trưng cho mỗi chương trình học là khác nhau, trong khi các chứng chỉ bằng cấp ngoại ngữ chủ yếu đào tạo thiên về khối kinh tế - xã hội, hoàn toàn không phục vụ gì cho các khối tự nhiên - kỹ thuật.

Nếu cần phải có ngoại ngữ phục vụ cho đào tạo sau đại học, thì cứ đưa ngoại ngữ vào chương trình đào tạo là được. Chứ học tiếng Việt thì yêu cầu đầu vào ngoại ngữ làm gì? Đầu ra thì có thể cần, nhưng không phải là chứng chỉ này nọ, mà là chương trình học có ngoại ngữ tương ứng, và thi qua các kỳ thi ngoại ngữ trong chương trình học là đủ và cần thiết".

Bạn đọc Giang cũng cho rằng cần coi trọng tư duy và năng lực nghiên cứu khoa học hơn việc bắt buộc người học phải có ngoại ngữ mới được theo học thạc sĩ, tiến sĩ.

Đồng tình với việc điều chỉnh quy định, bạn đọc Trần Hiển nhận định ngoại ngữ nên được xác định là công cụ phục vụ học thuật. Với những ngành như luật, quản lý công, hành chính, chính trị học, trọng tâm đào tạo sau đại học cần hướng đến năng lực nghiên cứu, tư duy phản biện và trình độ chuyên môn. Việc áp dụng một bộ tiêu chuẩn ngoại ngữ cứng nhắc cho mọi lĩnh vực có thể chưa phù hợp với thực tế.

Ngoại ngữ vẫn cần thiết, quan trọng là năng lực thực chất

Ngược lại, một số bạn đọc cho rằng không thể xem nhẹ vai trò của ngoại ngữ trong đào tạo sau đại học, nhất là đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy.

Bạn đọc Quyết Thắng đặt vấn đề một người có học vị tiến sĩ nhưng không nghe, nói được tiếng Anh thì sẽ gặp khó khăn như thế nào trong quá trình hội nhập và chuyển giao công nghệ.

Bạn đọc Liam cho rằng yêu cầu trình độ ngoại ngữ B1, B2 ở bậc sau đại học là hợp lý, bởi đây là những mức độ cơ bản, vừa sức với người học. Theo bạn đọc này, không nhất thiết phải học thêm văn bằng 2 ngôn ngữ Anh nếu chỉ nhằm đáp ứng điều kiện ngoại ngữ.

Một bạn đọc khác cho rằng vấn đề nằm ở chỗ nhiều người chỉ quan tâm đến điểm số trên chứng chỉ mà chưa chú trọng khả năng thực hành và vận dụng ngoại ngữ trong học tập, công việc.

Bạn đọc Mai Anh cũng đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế của việc yêu cầu cán bộ, công chức có chứng chỉ, bằng cấp tiếng Anh khi một bộ phận người học dù hoàn thiện hồ sơ bằng cấp nhưng vẫn không thể giao tiếp hoặc đọc hiểu tài liệu.

Bên cạnh việc xem xét chuẩn ngoại ngữ, nhiều ý kiến đề cập đến cách thức tổ chức thi và cấp chứng chỉ hiện nay. Bạn đọc Vo Hoa nhận xét quy định về chứng chỉ ngoại ngữ đã nhiều lần thay đổi, từ hệ thống A, B, C sang TOEFL, TOEIC rồi IELTS. Cần xem xét lại mục đích thực sự của việc yêu cầu văn bằng, chứng chỉ, đồng thời trao quyền cho cơ sở đào tạo, đơn vị tuyển dụng chủ động đánh giá năng lực ngoại ngữ theo nhu cầu thực tế.

Học văn bằng 2 ngôn ngữ Anh để đáp ứng điều kiện hay nâng cao năng lực?

Một vấn đề khác được nhiều bạn đọc đề cập là tình trạng người học đăng ký văn bằng 2 ngôn ngữ Anh chủ yếu nhằm đáp ứng điều kiện tuyển sinh sau đại học, thay vì xuất phát từ nhu cầu sử dụng ngoại ngữ thực tế.

Bạn đọc Lộc cho rằng thời hạn của chứng chỉ ngoại ngữ cũng tạo thêm áp lực cho người học. Với chương trình nghiên cứu sinh kéo dài nhiều năm, người học có thể phải ôn tập và thi lại nhiều lần để đáp ứng yêu cầu chứng chỉ, trong khi việc sử dụng tiếng Anh thực tế trong quá trình học tập, nghiên cứu còn hạn chế.

Một số ý kiến đề nghị bỏ yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ đầu vào đối với chương trình giảng dạy bằng tiếng Việt. Nếu ngoại ngữ cần thiết cho nghiên cứu sau đại học, nên đưa ngoại ngữ chuyên ngành vào chương trình và đánh giá trực tiếp năng lực của người học.

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng nếu bỏ văn bằng 2 để thay bằng hình thức thi đầu vào, thì cũng cần làm rõ liệu cách thức này có thực sự bảo đảm chất lượng hay không.

Văn bằng 2 ngôn ngữ Anh có còn cần thiết để học sau đại học?  - Ảnh 5.Quy chế đào tạo thạc sĩ: Hàng loạt thay đổi từ tuyển sinh đến tốt nghiệp

Tăng quyền tự chủ cho các trường, mở rộng hình thức đào tạo nhưng đồng thời siết chặt yêu cầu chất lượng là những điểm nổi bật trong quy chế mới về tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ.

Yêu cầu siết chuẩn đầu ra trình độ C1 đối với văn bằng 2 ngôn ngữ Anh do Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân đưa ra đang dấy lên nhiều tranh luận trái chiều trong cộng đồng học thuật. Trước sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo với khả năng dịch thuật và hỗ trợ giao tiếp hiệu quả, không ít ý kiến đề nghị xem xét lại vai trò của văn bằng này làm điều kiện tuyển sinh hay tốt nghiệp sau đại học. Nhiều người cho rằng việc duy trì khung đánh giá ngoại ngữ đồng loạt như hiện nay có thể trở thành rào cản hình thức đối với các nhà nghiên cứu. Nhiều quan điểm kiến nghị cơ quan quản lý cần linh hoạt điều chỉnh tiêu chí ngoại ngữ tùy theo đặc thù từng nhóm ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Đối với các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, kỹ thuật, luật hay hành chính công, trọng tâm đào tạo sau đại học nên tập trung vào năng lực chuyên môn và tư duy nghiên cứu thực chất thay vì đặt nặng các chứng chỉ thiên về xã hội. Việc tích hợp môn ngoại ngữ chuyên ngành trực tiếp vào chương trình đào tạo được đánh giá là giải pháp thiết thực hơn so với việc bắt buộc nộp văn bằng ngoại ngữ đầu vào. Ở chiều ngược lại, nhiều chuyên gia và người học vẫn khẳng định ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết phục vụ hội nhập quốc tế và chuyển giao tri thức. Một số ý kiến chỉ ra rằng người mang học vị cao nếu thiếu kỹ năng nghe nói tiếng Anh căn bản sẽ gặp trở ngại rất lớn khi tiếp cận kho tàng học thuật toàn cầu. Việc duy trì các chuẩn mực vừa sức ở bậc B1 hoặc B2 được xem là cần thiết nhằm bảo đảm năng lực nghiên cứu độc lập và chất lượng đào tạo sau đại học.
amung