Chiều 17/10, thảo luận tại tổ về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhiều đại biểu ghi nhận khu vực này hiện chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm nhưng năng lực nội tại còn yếu, cần bệ đỡ từ chính sách.
Tuy nhiên, một số ý kiến thẳng thắn chỉ ra nếu thiết kế chính sách không khéo, ưu đãi sẽ vô tình biến thành "chiếc nôi bao cấp", triệt tiêu động lực mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
Không thể bảo trợ trọn vòng đời
Đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa, Tổng Kiểm toán Nhà nước, nhấn mạnh sự hỗ trợ của nhà nước là cần thiết, nhất là giai đoạn doanh nghiệp mới gia nhập thị trường. Dù vậy, việc hỗ trợ bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc thị trường và phải có giới hạn cụ thể, không thể kéo dài vô tận.
"Chúng ta không thể nào hỗ trợ mãi mãi toàn bộ vòng đời của doanh nghiệp được", ông Nghĩa nói. Theo ông, chính sách cần đặt ra bài toán sòng phẳng: Cho doanh nghiệp tham gia chương trình hỗ trợ thì khi nào doanh nghiệp "tốt nghiệp" và khi nào nhà nước buông tay?
Đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa, Tổng Kiểm toán Nhà nước (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Ông phân tích, nếu chính sách cứ bảo bọc doanh nghiệp từ khi thành lập cho đến tận lúc giải thể hay rút lui khỏi thị trường thì bản chất không khác gì chế độ bao cấp. Hệ quả là doanh nghiệp sẽ hình thành tâm lý ỷ lại, trông chờ vào trợ cấp và không còn động lực để tự thân lớn mạnh.
Từ thực tế đó, ông Nghĩa đề nghị luật phải làm rõ ba nguyên tắc cốt lõi: Một là khuyến khích doanh nghiệp tự nỗ lực vươn lên; hai là mọi hình thức hỗ trợ bắt buộc phải có thời hạn cụ thể; ba là phải vận hành theo nguyên tắc thị trường, kiên quyết xóa bỏ tư duy bao cấp.
Nghịch lý "càng tạo nhiều việc làm càng mất ưu đãi"
Đồng quan điểm về việc chính sách phải hướng tới mục tiêu thúc đẩy doanh nghiệp lớn lên, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, cho rằng tên gọi và tư duy của đạo luật lần này phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, mở rộng quy mô, chứ không thể dừng lại ở việc hỗ trợ cầm chừng.
Từ góc nhìn này, ông Toàn chỉ ra điểm bất hợp lý ngay trong tiêu chí xác định DNNVV tại Điều 4 của dự thảo. Dự thảo quy định tiêu chí cứng về lao động là sử dụng dưới 300 người, kết hợp với điều kiện về doanh thu hoặc nguồn vốn.
Ông Toàn nêu thực tế: "Nếu cùng một điều kiện về doanh thu và nguồn vốn, doanh nghiệp lại tạo việc làm được cho 500 người thì lại không được hưởng hỗ trợ?".
Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Theo ông, những đơn vị thủ công mỹ nghệ, đan lát tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động xã hội rất xứng đáng được tiếp sức. Việc áp trần dưới 300 lao động vô tình khiến doanh nghiệp ngần ngại mở rộng tuyển dụng vì sợ vượt ngưỡng và bị cắt ưu đãi. Do đó, ông Toàn đề nghị cân nhắc bỏ giới hạn trần lao động, chỉ nên căn cứ vào doanh thu và nguồn vốn.
Cùng mổ xẻ về tiêu chí xác định doanh nghiệp, ông Nguyễn Danh Tú, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, cảnh báo kẽ hở pháp lý khi dự thảo bỏ quy định người lao động phải "có đóng bảo hiểm xã hội" (BHXH) như luật hiện hành, mà chỉ ghi chung chung là người lao động.
Theo ông Tú, nếu không căn cứ vào hợp đồng lao động và sổ BHXH, việc xác định quy mô lao động sẽ rất tùy tiện. Doanh nghiệp có thể lách luật bằng cách sử dụng lao động thời vụ, không đóng bảo hiểm để khai báo dưới 300 người nhằm "nấp bóng" dưới danh nghĩa doanh nghiệp nhỏ, tiếp tục hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ mà không chịu lớn lên một cách thực chất.
Ông Nguyễn Danh Tú, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Bên cạnh đó, đại biểu Danh Tú cũng lưu ý tình trạng thiếu ổn định khi dự thảo xác định tiêu chí thụ hưởng chỉ dựa vào số liệu của "năm trước liền kề". Trong khi các gói hỗ trợ kéo dài nhiều năm (như miễn giảm tiền thuê đất 5 năm), hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ lại biến động liên tục từng năm. Nếu năm nay đạt chuẩn thì được nhận hỗ trợ, năm sau kinh doanh khởi sắc vượt ngưỡng một chút lại bị cắt, rồi năm tiếp theo tụt xuống lại được nhận, thì chính sách sẽ rơi vào tình trạng "trồi sụt".
Ông Tú đề nghị cần có chu kỳ đánh giá hoặc cơ chế chuyển tiếp phù hợp để doanh nghiệp yên tâm tích lũy, mở rộng sản xuất mà không lo bị đứt gãy chính sách.
Ưu đãi phải gắn với hiệu quả thực tế
Bên cạnh tiêu chí phân loại, ông Nguyễn Hữu Toàn cũng lưu ý các công cụ hỗ trợ phải thực chất, tránh đưa ra những chính sách nghe hấp dẫn nhưng doanh nghiệp không thụ hưởng được.
Dẫn chứng về quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu kể từ khi thành lập, ông Toàn cho rằng quy định này mang tính hình thức. Thực tế, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm đầu mới ra đời đều chịu lỗ hoặc chưa có lãi, nên việc miễn thuế từ ngày thành lập gần như không có giá trị thực tế.
"Phải quy định là miễn 3 năm kể từ khi có lợi nhuận, có thu nhập chịu thuế", ông Toàn kiến nghị.
Theo ông, chỉ khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, việc miễn thuế mới trở thành nguồn vốn tái đầu tư hữu hiệu. Đây mới chính là cách hỗ trợ thực chất, tạo động lực kinh tế trực tiếp để doanh nghiệp nỗ lực hoạt động hiệu quả và tích lũy để lớn mạnh.