
Kỳ 1: Thủ khoa, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc cũng… chật vật tìm việc
Kỳ 2: Giảng viên ngại cho điểm kém vì sợ bị "bóc phốt", liệt vào danh sách đen
Kỳ 3: Cầm bằng giỏi, xuất sắc vẫn rớt tuyển dụng: Doanh nghiệp "chê" điều gì?
Kỳ 4: "Lạm phát" bằng giỏi, xuất sắc: Sinh viên bất chấp để đạt điểm cao
Qua 4 kỳ của tuyến bài “Lạm phát bằng giỏi: Điểm cao, năng lực có cao?”, Dân trí đã phản ánh những nghịch lý đáng suy ngẫm: không ít cử nhân bằng giỏi, xuất sắc vẫn chật vật tìm việc; giảng viên chịu “áp lực ngược” từ sinh viên; doanh nghiệp phàn nàn về những khoảng trống kỹ năng của người lao động mới tốt nghiệp...
Những câu chuyện ấy dù không phải là cho mọi trường hợp song vẫn cho thấy khoảng cách giữa kết quả học tập trên giảng đường và yêu cầu thực tế của thị trường lao động vẫn là bài toán cần lời giải.
Muốn khắc phục tình trạng điểm số không phản ánh đúng năng lực, không thể chỉ dừng ở việc kiểm soát tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc. Điều cốt lõi là phải rà soát cách đánh giá theo chuẩn đầu ra, gắn đào tạo với thực tiễn và đặt trách nhiệm giải trình về chất lượng lên chính các cơ sở giáo dục đại học.
Đây cũng là yêu cầu cấp thiết được đặt ra trong bối cảnh Bộ GD&ĐT tăng cường chấn chỉnh công tác kiểm tra, đánh giá và phòng, chống gian lận trong giáo dục.
Chống lạm phát điểm: Phải đánh giá đúng năng lực người học
Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo, PGS.TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, cho rằng việc tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc cao nhưng doanh nghiệp vẫn phản ánh thiếu kỹ năng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc là vấn đề cần nghiêm túc nhìn nhận. Điều này cho thấy ở một số trường hợp vẫn còn khoảng cách giữa kết quả học tập và năng lực làm việc thực tế.
Theo ông Hải, một trong những nguyên nhân có thể nằm ở cách thức kiểm tra, đánh giá còn nặng về kiến thức, chưa đo lường đầy đủ khả năng vận dụng, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề của người học.
Trong khi đó, yêu cầu của doanh nghiệp thay đổi nhanh, chương trình và phương pháp đào tạo không phải lúc nào cũng theo kịp thực tiễn.
Vấn đề cốt lõi, theo ông Hải là các trường phải chứng minh được kết quả đánh giá phản ánh đúng năng lực người học thông qua chuẩn đầu ra, kiểm định chất lượng và phản hồi từ doanh nghiệp.
“Quan điểm của tôi là bằng giỏi, xuất sắc phải đi đôi với năng lực thực chất. Nếu sinh viên đạt kết quả học tập cao nhưng không đáp ứng được yêu cầu công việc, cơ sở đào tạo cần rà soát lại cả phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và sự gắn kết với thị trường lao động”, PGS.TS Phan Hồng Hải nhận định.

Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp TPHCM trong lễ tốt nghiệp (Ảnh: IUH).
Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, theo PGS.TS Phan Hồng Hải, nhà trường triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm việc đánh giá phản ánh đúng năng lực sinh viên. Trong đó, hoạt động đánh giá được tăng cường thông qua thực hành, thí nghiệm, đồ án, dự án và sản phẩm thực tế, thay vì chỉ dựa vào kết quả thi lý thuyết.
Nhà trường cũng chú trọng kiểm định chất lượng chương trình đào tạo. Theo thông tin ông Hải cung cấp, trường có 46 chương trình được kiểm định, trong đó 6 chương trình đạt chuẩn ABET của Hoa Kỳ và 24 chương trình đạt chuẩn AUN-QA. Doanh nghiệp được kết nối với hoạt động đào tạo và đánh giá sinh viên.
Bên cạnh đó, trường thực hiện xét tốt nghiệp, khảo sát việc làm và lấy ý kiến doanh nghiệp để có thêm căn cứ đánh giá chất lượng đào tạo. Tỷ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp được nhà trường ghi nhận ở mức trên 93%; tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc những năm gần đây dao động khoảng 20-25%.
Phân tích ở góc độ chuyên môn khảo thí và kiểm định chất lượng, TS Sái Công Hồng cho rằng các trường cần đi sâu vào vấn đề cốt lõi: công cụ kiểm tra, đánh giá có thực sự đo được năng lực mà chương trình đào tạo đặt ra hay không.
Theo TS Sái Công Hồng, kiểm soát tình trạng lạm phát điểm và tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc là cần thiết, nhưng không nên chỉ tập trung vào con số sinh viên đạt điểm cao. Chuẩn đầu ra phải là căn cứ để thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo và lựa chọn phương thức đánh giá phù hợp.
Chẳng hạn, nếu chuẩn đầu ra yêu cầu sinh viên có khả năng phân tích và giải quyết vấn đề nhưng đề thi chủ yếu kiểm tra khả năng ghi nhớ, điểm số cao chưa chắc phản ánh đúng năng lực cần có.
Tương tự, nếu chương trình yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp nhưng sinh viên chỉ được đánh giá qua bài thi lý thuyết, kết quả đó khó có thể phản ánh đầy đủ khả năng thực hiện công việc.





Sinh viên phải được đánh giá đúng với năng lực, phù hợp với chuẩn đầu ra (Ảnh: My Nguyễn, Dương Văn).
Theo ông Hồng, hình thức tổ chức đánh giá cũng cần được xem xét. Đánh giá thường xuyên hay cuối kỳ, đánh giá cá nhân hay nhóm phải bảo đảm thu thập được minh chứng phù hợp với năng lực cần đánh giá.
Một sản phẩm nhóm đạt điểm xuất sắc không đồng nghĩa với tất cả thành viên đều có năng lực xuất sắc nếu thiếu minh chứng về mức độ đóng góp và năng lực của từng cá nhân.
Bên cạnh đó, một sinh viên có điểm trung bình cao nhưng chưa đáp ứng một số chuẩn đầu ra cốt lõi vẫn có thể được công nhận đạt nếu kết quả được cộng gộp và bù trừ mà không có yêu cầu tối thiểu đối với những năng lực bắt buộc.
“Để các giải pháp thực sự phát huy hiệu quả, cần chuyển trọng tâm từ giám sát phân bố điểm số sang bảo đảm chất lượng của hệ thống đánh giá theo chuẩn đầu ra”, TS Sái Công Hồng chia sẻ.
Hồi chuông từ Bộ trưởng: Xuất sắc nhiều, cần xem lại chuẩn đào tạo
Phát biểu tại Hội nghị Giáo dục đại học hồi đầu tháng 10, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn bày tỏ trăn trở trước tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở nhiều trường, kể cả những trường lớn, đồng thời yêu cầu các cơ sở đào tạo nhìn lại chất lượng, nâng chuẩn và bảo đảm việc kiểm tra, đánh giá phản ánh đúng năng lực, nỗ lực của người học.
“Chúng ta thành công trong việc mở rộng quy mô rồi, nhưng thực sự chất lượng đã yên tâm chưa?”, Bộ trưởng đặt vấn đề.
Theo Bộ trưởng, đánh giá chất lượng giáo dục đại học không thể chỉ nhìn vào đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất hay số lượng sinh viên tốt nghiệp. Các trường cần quan tâm cả thời gian sinh viên dành cho học tập, nghiên cứu mỗi tuần, mức độ nỗ lực của người học và những điều kiện khiến sinh viên có thực sự phải học sâu, học nghiêm túc hay không.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, yêu cầu này càng trở nên đáng chú ý. Bộ trưởng cảnh báo: “Máy móc đã là học sâu rồi, mà người học lại học nông, học nhẹ thì làm sao cạnh tranh hay làm chủ được AI”.
Bộ trưởng yêu cầu các trường cần tìm ra nguyên nhân vì sao sinh viên chưa nỗ lực, có thể xuất phát từ chương trình đào tạo, mức độ thách thức của bài kiểm tra, tính thiết yếu của môn học, phương pháp giảng dạy, điều kiện học tập hoặc sự phù hợp giữa đầu vào và chương trình đào tạo... Việc làm rõ những vấn đề này là cơ sở để các trường cải tiến chất lượng đào tạo.
“Nếu học dễ như thế, xuất sắc nhiều như vậy thì thực sự sinh viên có phải nỗ lực hay không? Những trường tốt càng cần nâng chuẩn để sinh viên phải nỗ lực học tập. Những trường lớn đạt chuẩn cũng như trường khác mà để sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhiều thì tôi tin rằng sinh viên không cần phải nỗ lực nhiều”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn đặt câu hỏi về tình trạng nhiều bằng giỏi, xuất sắc (Ảnh minh họa).
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn còn nhắc đến tính thực chất và công bằng trong kiểm tra, đánh giá. Theo ông, các trường cần xem xét việc ra đề thi, tổ chức kiểm tra và đánh giá trong toàn bộ quá trình học tập đã thực chất, công bằng hay chưa cũng như kết quả xếp loại tốt nghiệp có phản ánh đúng năng lực của sinh viên không.
Bộ trưởng cũng cho rằng tất cả các trường đại học cần gắn học tập với nghiên cứu, không chỉ riêng những trường định hướng nghiên cứu. Việc học cần kết hợp với trải nghiệm và giải quyết các bài toán thực tiễn; sinh viên cần được tiếp cận nghiên cứu ngay từ khi nhập học, đồng thời giảng viên cũng phải gắn hoạt động giảng dạy với nghiên cứu.
Nếu việc học không gắn với nghiên cứu và thực tiễn, giáo dục đại học sẽ có nguy cơ tụt hậu, nhất là trong bối cảnh phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cụ thể hóa tinh thần này, trong hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm hôm 16/10, Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở đào tạo rà soát quy định kiểm tra, đánh giá và xếp loại tốt nghiệp; phân tích phân bố điểm học phần, kết quả học tập và xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa và hình thức đào tạo.
Kết quả phân tích phải được đối chiếu với mức đạt chuẩn đầu ra và phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện, kiểm tra và xử lý tình trạng lạm phát điểm số.
Đáng chú ý, Bộ nhấn mạnh không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; không hạ chuẩn để tăng thành tích; đồng thời yêu cầu kiểm tra mẫu bài thi, đồ án, luận văn và minh chứng đánh giá; xử lý sai phạm theo đúng thẩm quyền, bảo đảm quyền lợi người học.
Bộ yêu cầu các cơ sở giáo dục hoàn thành báo cáo kiểm soát lạm phát điểm và kết quả cải tiến trước khi kết thúc năm học.
Yêu cầu tăng cường kỷ cương cũng được đặt ra tại Chỉ thị số 37/CT-TTg ngày 20/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng, chống gian lận thi cử, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục và đào tạo.
Chỉ thị nhấn mạnh việc đổi mới giao chỉ tiêu xếp loại và đánh giá thi đua, khen thưởng theo hướng không tạo áp lực thành tích; không lấy riêng tỷ lệ người học khá, giỏi, tỷ lệ tốt nghiệp hoặc kết quả thi làm căn cứ đánh giá, xếp loại, khen thưởng tập thể, cá nhân.
Văn bản cũng nghiêm cấm việc chỉ đạo, gây sức ép hoặc can thiệp trái quy định nhằm nâng điểm, nâng tỷ lệ tốt nghiệp, làm sai lệch kết quả học tập hoặc che giấu vi phạm.

Nhìn từ thực tiễn của nhà trường, phân tích của chuyên gia đến yêu cầu của cơ quan quản lý, có thể thấy bài toán lạm phát bằng giỏi, xuất sắc không thể giải quyết bằng một biện pháp đơn lẻ.
Bằng giỏi, xuất sắc là sự ghi nhận chính đáng cho quá trình rèn luyện của người học. Chúng ta không phủ nhận nỗ lực của những sinh viên ưu tú thực sự chỉ vì tỷ lệ tốt nghiệp loại cao tăng lên; nhưng danh hiệu ấy cũng không thể chỉ được "bảo đảm" bằng những con số trên bảng điểm khi thiếu đi minh chứng về năng lực nghề nghiệp thực tế.
Sau cùng, giá trị của tấm bằng đại học không nằm ở việc có bao nhiêu người được xếp loại giỏi, xuất sắc, mà ở chỗ kết quả ấy có phản ánh đúng năng lực, nỗ lực của từng người học hay không. Chống lạm phát điểm số, vì thế, không phải là kéo tỷ lệ xuống một cách khiên cưỡng, mà là trả lại ý nghĩa thực chất cho mỗi điểm số, mỗi danh hiệu và mỗi tấm bằng được trao.