Bỏ qua điều hướng

Trắng đêm giữ lửa nghề hầm muối 150 năm tuổi

Trắng đêm giữ lửa nghề hầm muối 150 năm tuổi
Nguồn ảnh: VnExpress

Suốt đêm, những diêm dân ở làng Tuyết Diêm, xã Xuân Cảnh (Phú Yên cũ) vật lộn với khói bụi, hơi nóng của lò nung để làm ra những mẻ muối hầm đặc trưng xứ Nẫu.

Trắng đêm giữ lửa nghề hầm muối 150 năm tuổi

Trong gian xưởng rộng khoảng 300 m2 mờ đặc khói, ông Nguyễn Văn Đào, 54 tuổi, cùng nhóm thợ liên tục tiếp củi, giữ lửa suốt 12 tiếng để hoàn thành một mẻ muối hầm. Hơi muối bốc lên hòa cùng khói củi, tạo lớp "khói muối" cay xè mắt, rát cổ.

Làng muối Tuyết Diêm hình thành từ năm 1870, từng nổi tiếng với nghề hầm muối, nay chỉ còn 4 lò duy trì hoạt động. Trước sức ép của muối công nghiệp giá rẻ, đầu ra bấp bênh và công việc nặng nhọc, nghề truyền thống này ngày càng ít người theo.

Trong gian xưởng rộng khoảng 300 m2 mờ đặc khói, ông Nguyễn Văn Đào, 54 tuổi, cùng nhóm thợ liên tục tiếp củi, giữ lửa suốt 12 tiếng để hoàn thành một mẻ muối hầm. Hơi muối bốc lên hòa cùng khói củi, tạo lớp "khói muối" cay xè mắt, rát cổ.

Làng muối Tuyết Diêm hình thành từ năm 1870, từng nổi tiếng với nghề hầm muối, nay chỉ còn 4 lò duy trì hoạt động. Trước sức ép của muối công nghiệp giá rẻ, đầu ra bấp bênh và công việc nặng nhọc, nghề truyền thống này ngày càng ít người theo.

Ông Đào, 54 tuổi, liên tục đảo than hồng, phủ kín mặt lò để giữ nhiệt. Gắn bó với nghề 25 năm, ông cho biết đây là nguồn thu nhập chính của gia đình.

"Công việc vất vả, nhiều hôm phải thức trắng đêm, thu nhập khoảng 200.000-300.000 đồng mỗi ngày", ông nói.

Ông Đào, 54 tuổi, liên tục đảo than hồng, phủ kín mặt lò để giữ nhiệt. Gắn bó với nghề 25 năm, ông cho biết đây là nguồn thu nhập chính của gia đình.

"Công việc vất vả, nhiều hôm phải thức trắng đêm, thu nhập khoảng 200.000-300.000 đồng mỗi ngày", ông nói.

Để lò hầm đạt nhiệt độ hơn 800°C, diêm dân dùng củi thu mua từ các vùng đồi núi lân cận.

Khoảng ba giờ đầu, thợ phải liên tục canh lửa, thêm củi và điều chỉnh nhiệt. Lửa quá lớn có thể làm vỡ thố, trong khi nhiệt quá thấp khiến muối không chín đều. Tiếng muối nổ lách tách là một trong những dấu hiệu giúp họ nhận biết tiến độ hầm.

Để lò hầm đạt nhiệt độ hơn 800°C, diêm dân dùng củi thu mua từ các vùng đồi núi lân cận.

Khoảng ba giờ đầu, thợ phải liên tục canh lửa, thêm củi và điều chỉnh nhiệt. Lửa quá lớn có thể làm vỡ thố, trong khi nhiệt quá thấp khiến muối không chín đều. Tiếng muối nổ lách tách là một trong những dấu hiệu giúp họ nhận biết tiến độ hầm.

Để lò hầm đạt nhiệt độ hơn 800°C, diêm dân dùng củi thu mua từ các vùng đồi núi lân cận.

Khoảng ba giờ đầu, thợ phải liên tục canh lửa, thêm củi và điều chỉnh nhiệt. Lửa quá lớn có thể làm vỡ thố, trong khi nhiệt quá thấp khiến muối không chín đều. Tiếng muối nổ lách tách là một trong những dấu hiệu giúp họ nhận biết tiến độ hầm.

Mỗi thố chứa hơn 10 kg muối thô, một lò hầm xếp khoảng 100-150 thố, tùy kích thước.

Thố đất được làm thủ công, đưa về từ Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Sau nhiều lần nung ở nhiệt độ hơn 800°C, thố dễ rạn, nứt hoặc vỡ. "Cái nào còn nguyên thì giữ lại dùng tiếp, cái nào bị rạn, nứt phải gia cố bằng dây kẽm cho tiết kiệm", ông Nguyễn Đức Thuận, 58 tuổi, nói.

Mỗi thố chứa hơn 10 kg muối thô, một lò hầm xếp khoảng 100-150 thố, tùy kích thước.

Thố đất được làm thủ công, đưa về từ Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Sau nhiều lần nung ở nhiệt độ hơn 800°C, thố dễ rạn, nứt hoặc vỡ. "Cái nào còn nguyên thì giữ lại dùng tiếp, cái nào bị rạn, nứt phải gia cố bằng dây kẽm cho tiết kiệm", ông Nguyễn Đức Thuận, 58 tuổi, nói.

Việc xếp các thố muối vào lò đòi hỏi kinh nghiệm để nhiệt phân bố đều. "Thố nhỏ đặt ở tầng dưới, gần cửa lò, thố lớn hơn xếp dần lên trên. Nếu xếp sai, nhiệt không đều, thố dễ nứt vỡ, muối cũng không chín đều", ông Đào nói.

Lò hầm được người địa phương xây bằng gạch thẻ và xi măng. Sau thời gian sử dụng, khi khả năng giữ nhiệt giảm, diêm dân phải phá bỏ để xây lò mới.

Việc xếp các thố muối vào lò đòi hỏi kinh nghiệm để nhiệt phân bố đều. "Thố nhỏ đặt ở tầng dưới, gần cửa lò, thố lớn hơn xếp dần lên trên. Nếu xếp sai, nhiệt không đều, thố dễ nứt vỡ, muối cũng không chín đều", ông Đào nói.

Lò hầm được người địa phương xây bằng gạch thẻ và xi măng. Sau thời gian sử dụng, khi khả năng giữ nhiệt giảm, diêm dân phải phá bỏ để xây lò mới.

Ông Thuận trút muối đã hầm qua đêm ra khỏi thố, chuẩn bị sàng lọc để thu thành phẩm.

Ông Thuận trút muối đã hầm qua đêm ra khỏi thố, chuẩn bị sàng lọc để thu thành phẩm.

Muối hao hụt đáng kể sau quá trình hầm. Mỗi mẻ ban đầu khoảng 1,4-1,6 tấn muối thô, sau khi hầm còn khoảng 1,2 tấn thành phẩm.

Muối hao hụt đáng kể sau quá trình hầm. Mỗi mẻ ban đầu khoảng 1,4-1,6 tấn muối thô, sau khi hầm còn khoảng 1,2 tấn thành phẩm.

Các lò hầm hoạt động quanh năm, chủ yếu theo đơn đặt hàng. Do thị trường còn nhỏ, người dân Tuyết Diêm trung bình chỉ làm khoảng 20 đêm mỗi tháng, có thời điểm ít hơn.

Trước đây, muối hầm chủ yếu bán tại các chợ truyền thống trong vùng. Những năm gần đây, kênh bán hàng trực tuyến giúp sản phẩm tiếp cận khách ở nhiều tỉnh, thành hơn.

Các lò hầm hoạt động quanh năm, chủ yếu theo đơn đặt hàng. Do thị trường còn nhỏ, người dân Tuyết Diêm trung bình chỉ làm khoảng 20 đêm mỗi tháng, có thời điểm ít hơn.

Trước đây, muối hầm chủ yếu bán tại các chợ truyền thống trong vùng. Những năm gần đây, kênh bán hàng trực tuyến giúp sản phẩm tiếp cận khách ở nhiều tỉnh, thành hơn.

Các lò hầm hoạt động quanh năm, chủ yếu theo đơn đặt hàng. Do thị trường còn nhỏ, người dân Tuyết Diêm trung bình chỉ làm khoảng 20 đêm mỗi tháng, có thời điểm ít hơn.

Trước đây, muối hầm chủ yếu bán tại các chợ truyền thống trong vùng. Những năm gần đây, kênh bán hàng trực tuyến giúp sản phẩm tiếp cận khách ở nhiều tỉnh, thành hơn.

Khác với muối thô, muối sau khi hầm có hạt mịn, tơi xốp, vị mặn dịu và ít chát hơn. Sản phẩm được dùng làm gia vị trong bữa ăn hằng ngày, giá bán khoảng 12.000-90.000 đồng mỗi kg, tùy thương hiệu, nguồn gốc và quy cách đóng gói.

Ông Bùi Ngọc Tâm, Chủ tịch UBND xã Xuân Cảnh, cho biết Tuyết Diêm hiện có gần 121 ha ruộng muối, khoảng 350 hộ sản xuất và 4 lò hầm còn hoạt động. Địa phương định hướng vừa bảo tồn nghề truyền thống, vừa nâng giá trị sản phẩm, từng bước phát triển Tuyết Diêm thành điểm trải nghiệm làng nghề.

Theo ông Tâm, chính quyền đã tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông, quảng bá và bán sản phẩm trên các kênh hiện đại cho người dân.

Khác với muối thô, muối sau khi hầm có hạt mịn, tơi xốp, vị mặn dịu và ít chát hơn. Sản phẩm được dùng làm gia vị trong bữa ăn hằng ngày, giá bán khoảng 12.000-90.000 đồng mỗi kg, tùy thương hiệu, nguồn gốc và quy cách đóng gói.

Ông Bùi Ngọc Tâm, Chủ tịch UBND xã Xuân Cảnh, cho biết Tuyết Diêm hiện có gần 121 ha ruộng muối, khoảng 350 hộ sản xuất và 4 lò hầm còn hoạt động. Địa phương định hướng vừa bảo tồn nghề truyền thống, vừa nâng giá trị sản phẩm, từng bước phát triển Tuyết Diêm thành điểm trải nghiệm làng nghề.

Theo ông Tâm, chính quyền đã tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông, quảng bá và bán sản phẩm trên các kênh hiện đại cho người dân.

Hải Lộc - Ý Hằng

Nghề hầm muối truyền thống tại làng Tuyết Diêm, xã Xuân Cảnh (Phú Yên) với lịch sử hơn 150 năm đang đứng trước nguy cơ mai một khi hiện chỉ còn 4 lò duy trì hoạt động. Giữa gian xưởng mờ đặc khói củi và hơi muối cay rát cổ, những diêm dân như ông Nguyễn Văn Đào vẫn miệt mài tiếp củi suốt 12 tiếng liên tục để giữ lửa cho từng mẻ muối. Trước sức ép của muối công nghiệp giá rẻ cùng đầu ra bấp bênh, công việc nặng nhọc thức trắng đêm này chỉ đem lại nguồn thu nhập khiêm tốn khoảng 200.000 đến 300.000 đồng mỗi ngày. Để tạo ra sản phẩm muối hầm đặc trưng của xứ Nẫu, người thợ phải duy trì nhiệt độ lò hầm lên tới hơn 800°C bằng lượng củi thu mua từ các vùng đồi núi lân cận. Trong 3 giờ đầu tiên, việc kiểm soát ngọn lửa đòi hỏi sự cẩn trọng tuyệt đối nhằm tránh làm vỡ thố đất hoặc khiến muối chín không đều. Diêm dân thường dựa vào tiếng muối nổ lách tách cùng kinh nghiệm lâu năm để đánh giá chính xác tiến độ hầm muối trong lò. Mỗi lò hầm xếp khoảng 100 đến 150 thố đất thủ công vận chuyển từ Bình Định, với mỗi thố chứa hơn 10 kg muối thô. Do trải qua nhiệt độ cực cao, các thố đất rất dễ rạn nứt nên diêm dân phải gia cố bằng dây kẽm để tiết kiệm chi phí sản xuất. Sự kiên trì của những người thợ Tuyết Diêm không chỉ duy trì sinh kế gia đình mà còn gìn giữ một giá trị văn hóa di sản lâu đời của vùng đất duyên hải miền Trung.