Phiên đấu giá nghệ thuật hiện đại và đương đại mùa thu của nhà đấu giá Sotheby’s tại Hong Kong (Trung Quốc) cuối tháng 9 ghi nhận kết quả tích cực đối với mỹ thuật Việt Nam.
Trong hai phiên ngày 28 và 29/9, 18 tác phẩm của nghệ sĩ Việt Nam, gốc Việt hoặc có liên hệ trực tiếp với Việt Nam đều tìm được chủ mới.
Đáng chú ý, 13 trong số 18 tác phẩm có giá cuối cùng vượt mức ước tính cao, tương đương 72%.
Tâm điểm là Conversation d'élégantes au jardin (tạm dịch: Cuộc trò chuyện của những quý cô trong vườn) của Vũ Cao Đàm. Tác phẩm đạt 28,96 triệu HKD, tương đương 3,69 triệu USD (khoảng 97 tỷ đồng), bao gồm thuế, phí.
Kết quả đưa bức tranh trở thành tác phẩm Việt Nam có giá công khai cao nhất trên sàn đấu giá tính đến nay, vượt kỷ lục trước đó của Chân dung cô Phượng (1931) của Mai Trung Thứ.
Vì sao có tranh Việt gần 100 tỷ đồng?
Tranh lụa Cuộc trò chuyện của những quý cô trong vườn ra đời năm 1939, thuộc loại kích thước lớn đối với chất liệu này. Theo thông tin nhà đấu giá công bố, bức tranh vẽ bằng mực và gouache trên lụa. Màu sắc trong tranh nổi bật nhờ sự phong phú, có chất trữ tình.
Tác phẩm từng xuất hiện tại Sotheby’s Hong Kong (Trung Quốc) năm 2008.
Ông Nguyễn Thiều Kiên - Giám đốc điều hành Bảo tàng Quang San - khẳng định với PV Tiền Phong mức giá kỷ lục không đến từ một yếu tố riêng lẻ mà là kết quả của nhiều giá trị cùng hội tụ.
“Tác phẩm này hội tụ khá nhiều điểm mạnh cùng lúc, thuộc giai đoạn sớm và quan trọng của Vũ Cao Đàm, khổ lớn đối với tranh lụa, bố cục nhiều nhân vật, rõ và từng xuất hiện trong các triển lãm, bộ sưu tập có uy tín”, ông Kiên nhận định.
Theo ông, thị trường đang dành sự quan tâm lớn cho những thế hệ đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Vì vậy, khi một tác phẩm hiếm, có chất lượng nghệ thuật và lịch sử sở hữu rõ ràng xuất hiện đúng thời điểm nhu cầu cao, mức giá tăng mạnh là điều có cơ sở.
Với bức tranh này, danh họa Vũ Cao Đàm có tác phẩm thứ hai vượt mốc một triệu USD tại đấu giá, sau Femmes au bain (Tắm tiên) ra đời năm 1944, được bán năm 2020.
Các tác phẩm lụa quan trọng từ thế hệ đầu Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương hiện nay còn không nhiều, việc bảo quản khó hơn nhiều chất liệu khác.
Kỷ lục mới cũng cho thấy sức hút của tranh lụa Đông Dương. Ông Kiên cho rằng lụa giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Lê Phổ và Vũ Cao Đàm đã sử dụng chất liệu này để hình thành một ngôn ngữ hội họa đặc trưng.
Ghi nhận sức mua ở tranh Lê Phổ, Phạm Hậu
Một kết quả khác đáng chú ý tại phiên đấu của Sotheby’s là (Park) Công viên 15 của Trần Lưu Hậu. Tác phẩm acrylic khổ lớn, chiều ngang khoảng 4 m, đạt 360.000 USD (khoảng 9,5 tỷ đồng), gồm thuế, phí, cao hơn gấp đôi mức ước tính cao.
Đây là mức đấu giá cao nhất của một tác phẩm Trần Lưu Hậu tính đến thời điểm hiện tại, đồng thời tạo thêm một cột mốc cho nhóm họa sĩ thuộc thế hệ mỹ thuật kháng chiến.
Một số tác phẩm khác cũng đạt mức giá đáng kể. Mélodie (Nhã nhạc) của Mai Trung Thứ đạt 587.000 USD (khoảng 15,4 tỷ đồng), Abandon (Chờ đợi) của Lê Phổ đạt 277.000 USD (khoảng 7,3 tỷ đồng). Angkor Wat (Đền Angkor Wat) (1938) của Trần Bình Lộc đạt 244.000 USD (khoảng 6,4 tỷ đồng).
Theo ông Nguyễn Thiều Kiên, kỷ lục của Trần Lưu Hậu là tín hiệu đáng chú ý bởi họa sĩ thuộc thế hệ sau Đông Dương và gắn với giai đoạn kháng chiến của mỹ thuật Việt Nam.
“Điều đó cho thấy sự quan tâm của thị trường quốc tế đang bắt đầu mở rộng sang những giai đoạn khác của mỹ thuật Việt Nam, thay vì tập trung chủ yếu vào thế hệ Đông Dương như trước đây”, ông Kiên nói.
Một ngày sau phiên Sotheby’s, phiên 20th Century day sale của Christie’s tại Hong Kong (Trung Quốc) ngày 30/9 tiếp tục ghi nhận nhiều giao dịch liên quan tới mỹ thuật Việt Nam.
Les cerfs (Đàn hươu) của Phạm Hậu đạt 3,072 triệu HKD, tương đương khoảng 391.680 USD (khoảng 10,3 tỷ đồng).
Các tác phẩm của Lê Phổ tiếp tục duy trì mặt bằng giá cao. Fleurs (Hoa), tranh sơn dầu trên toan sáng tác trong thập niên 1970, đạt 2,176 triệu HKD, khoảng 277.440 USD (khoảng 7,3 tỷ đồng).
Le bouquet champêtre (Bó hoa đồng nội) đạt 1,92 triệu HKD, khoảng 244.800 USD (khoảng 6,4 tỷ đồng). Les primevères (Hoa anh thảo) đạt 1,152 triệu HKD, khoảng 146.880 USD (khoảng 3,9 tỷ đồng).
Ba tác phẩm của Vũ Cao Đàm tại phiên này cũng tìm được người mua. Divinité (Thần linh) đạt khoảng 146.880 USD (khoảng 3,9 tỷ đồng), Le repos (Nghỉ ngơi) khoảng 138.720 USD (khoảng 3,6 tỷ đồng) và Le bouquet (Bó hoa) khoảng 97.920 USD (khoảng 2,6 tỷ đồng).
Thị trường chuyển biến tích cực
Không chỉ các tác phẩm triệu USD, kết quả của hai phiên đấu cho thấy giao dịch diễn ra ở nhiều mức giá. Đây là yếu tố được giới trong ngành chú ý khi đánh giá sức khỏe của thị trường, bởi một thị trường nghệ thuật không chỉ dựa vào số ít kỷ lục ở phân khúc cao cấp.
Ông Ace Lê - cố vấn cao cấp Sotheby’s - nhận định những kết quả vừa qua cho thấy thị trường đang chuyển biến theo hướng tích cực, khi thanh khoản xuất hiện ở cả phân khúc cao và trung cấp.
“Những kết quả khả quan này là dấu hiệu cho thấy thị trường đang chuyển mình theo chiều tích cực, với thanh khoản dàn đều cho các tác phẩm ở nhiều phân khúc, cả tầm cao và tầm trung”, ông Ace Lê nhận định.
Theo ông, nền tảng kinh tế, chính trị ổn định của Việt Nam đang tạo điều kiện cho thị trường nghệ thuật phát triển, đồng thời thu hút người tham gia đấu giá từ cả trong nước lẫn quốc tế.
Sự hiện diện của người mua trong nước có ý nghĩa đáng chú ý đối với triển vọng dài hạn. Nếu nhu cầu đối với nghệ thuật Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào người mua quốc tế, thị trường dễ chịu ảnh hưởng từ thay đổi khẩu vị và dòng vốn bên ngoài.
Dù vậy, các mức giá cao nhất hiện vẫn chủ yếu thuộc về thế hệ gắn với Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Vì thế, kỷ lục của Trần Lưu Hậu được chú ý như một tín hiệu về khả năng mở rộng của thị trường sang những giai đoạn tiếp theo.
Ông Nguyễn Thiều Kiên dự báo nếu xu hướng này tiếp tục, trong 5 năm tới có thể xuất hiện thêm nhiều nghệ sĩ Việt thuộc các thế hệ sau, kể cả nghệ sĩ đương đại, được thị trường quốc tế nhận diện rõ hơn.
Tuy nhiên, mức giá tại một vài phiên đấu chưa đủ để bảo đảm một xu hướng dài hạn. Theo ông Kiên, để thị trường phát triển bền vững cần có hệ sinh thái hỗ trợ phía sau.
“Vẫn cần cả một hệ sinh thái, từ phòng tranh, bảo tàng, giám tuyển nghệ thuật đến nghiên cứu và nhà sưu tập”, ông nói.