Bỏ qua điều hướng
•

'Trọng nam khinh nữ' nhìn từ những bé gái không được chào đời

'Trọng nam khinh nữ' nhìn từ những bé gái không được chào đời
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Ngày 20-10, nhìn những bó hoa dành cho phụ nữ khiến tôi nghĩ đến những bé gái chưa được đón nhận.

'Trọng nam khinh nữ' nhìn từ những bé gái không chào đời - Ảnh 1.

Xây dựng một môi trường xã hội, trong đó mỗi trẻ em đều được chào đón và yêu thương bình đẳng, góp phần duy trì cơ cấu dân số hợp lý và phát triển bền vững - Ảnh: P.Q.

Vài năm trước, một người em trong họ tìm đến tôi hỏi việc phá thai có mang tội gì không. Lý do em muốn bỏ thai vì đã có hai cô con gái, trong khi cái thai thứ 3 vẫn không phải bé trai. Tôi đã khuyên em đừng bỏ thai.

Tôi không lấy câu chuyện riêng của em để kết luận về động cơ lựa chọn giới tính của đa số, mà nghĩ nhiều hơn về những phụ nữ phải mang một quyết định nặng nề đến hỏi người khác. Trong khi họ lo mình có tội hay không, đôi khi những người tạo áp lực lại đứng ngoài, xem đó là chuyện của người mẹ.

Định kiến và áp lực

Mới đây, tôi tiếp cận một thông tin đau lòng: hàng chục nghìn bé gái không có cơ hội chào đời mỗi năm do bố mẹ các em lựa chọn giới tính, tôi nhớ lại câu hỏi ấy của người em họ. Ở đây, một định kiến có thể được nhiều người cùng duy trì, nhưng hậu quả lại dồn lên cơ thể, tâm trí và cuộc sống của một người phụ nữ.

Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 do Tổng cục Thống kê công bố, tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 111,4 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn mức cân bằng khoảng 106. Đây là tỉ số của trẻ sinh ra, không phải tỉ số nam nữ của toàn bộ dân số.

Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) khi công bố Báo cáo tình trạng dân số thế giới năm 2020 tại Việt Nam, dẫn ước tính mỗi năm có khoảng 40.800 ca sinh bé gái bị thiếu hụt do lựa chọn giới tính. Cần gọi đúng đây là ước tính dân số học được công bố năm 2020, không phải số ca phá thai đã kiểm đếm trong năm 2026.

Những con số cho thấy định kiến không chỉ nằm trong lời nói. Khi mong muốn có con trai kết hợp với khả năng can thiệp trước sinh, sự thiên lệch có thể hiện thành lựa chọn. Điều từng được coi là chuyện riêng của mỗi nhà dần để lại dấu vết trong cơ cấu dân số.

Nhưng tôi không muốn sự thương xót những bé gái chỉ bắt đầu từ nỗi lo đàn ông sau này khó tìm vợ. Nguy cơ mất cân đối là điều cần nghiên cứu, song một bé gái có giá trị tự thân - em xứng đáng được đón nhận, không phải vì tương lai cần thêm một người vợ cho ai đó.

Nếu chỉ thuyết phục gia đình sinh con gái để xã hội đủ cô dâu, chúng ta vẫn đang nhìn phụ nữ qua nhu cầu của người khác. Tư duy ấy không xa cách nhìn con trai như người nối họ, con gái như người chăm sóc: đứa trẻ chưa ra đời đã được giao một chức năng, gánh một trọng trách.

Bé gái không cần hứa sẽ hiếu thảo hơn con trai mới đáng được sinh ra

Sự trọng nam khinh nữ có thể tồn tại trong những suy nghĩ ẩn tàng, một câu nói tưởng như vô hại. Chẳng hạn, một gia đình sinh hai con gái được an ủi "thôi, con nào cũng là con", rồi được hỏi có định "cố thêm" không. Lời nói tưởng thân tình ấy lại ngầm xác nhận rằng gia đình đó vẫn còn thiếu một điều quan trọng.

Ngay cả lời khen con gái cũng có lúc mang điều kiện: con gái tình cảm hơn, chăm cha mẹ tốt hơn. Tôi hiểu thiện ý phía sau, nhưng vẫn băn khoăn. Trời ạ, bé gái không cần hứa sẽ hiếu thảo hơn con trai mới đáng được sinh ra. Thực ra, các em cũng có quyền trưởng thành theo cách riêng.

'Trọng nam khinh nữ' nhìn từ những bé gái không chào đời - Ảnh 2.

Một cặp vợ chồng hạnh phúc khi có hai bé gái - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Sự phân biệt ăn sâu khi nó đi cùng cách chia quyền lợi và trách nhiệm. Nếu con trai được ưu tiên tài sản vì mang họ, còn con gái được kỳ vọng chăm sóc vì khéo léo, chúng ta đang duy trì hai thước đo.

Những bài nói về bình đẳng khó có sức thuyết phục khi nếp nhà vẫn vận hành như cũ. Bởi vậy, tôi nghĩ, thay đổi cần bắt đầu từ việc cụ thể như cơ hội học tập, quyền tham gia quyết định, sự công bằng trong tài sản và trách nhiệm phụng dưỡng. Con trai cần được dạy chăm người thân, làm việc nhà; con gái cần được tin tưởng giao việc lớn, thay vì chỉ được khen ngoan và biết nhường.

UNFPA xác định ba yếu tố cùng thúc đẩy lựa chọn giới tính: tâm lý chuộng con trai, mong muốn có ít con và công nghệ cho phép lựa chọn. Cách nhìn này nhắc rằng kinh tế khá lên hay kỹ thuật hiện đại hơn chưa đủ làm định kiến biến mất. Công cụ mới vẫn có thể phục vụ một mong muốn cũ.

Vì thế, kiểm soát việc lạm dụng công nghệ sinh sản cần song hành với thay đổi quan niệm. Cơ sở chuyên môn phải có trách nhiệm với mục đích sử dụng kỹ thuật, còn gia đình phải nhận ra áp lực của mình. Không thể để người phụ nữ trở thành nơi duy nhất tiếp nhận mọi lời nhắc nhở và trách cứ.

Người chồng có vai trò rất cụ thể, đó là nói rõ với gia đình rằng sinh con gái không phải lỗi của vợ, và việc chăm sóc con là trách nhiệm chung. Khi người chồng có sự bảo vệ nhất quán, kèm hành động chia sẻ, có thể thiết thực hơn việc im lặng rồi khuyên vợ đừng nghĩ nhiều.

Tôi cho rằng, những người lớn tuổi cũng có thể thay đổi không khí gia đình bằng cách ngừng hỏi về "cháu đích tôn", ngừng so sánh nhà có con trai với nhà toàn con gái. Khi sự chờ đón không còn kèm điều kiện, người mang thai bớt phải giải trình về một điều ngoài quyền quyết định của mình.

Ở phạm vi xã hội, chăm sóc tuổi già và an sinh cũng cần được tính đến. Khi cha mẹ có thêm chỗ dựa ngoài con cái, nỗi lo phải có một người con trai để nương tựa có thể giảm bớt. Bình đẳng cần những điều kiện sống giúp người ta thực hành được điều mình hiểu là đúng.

Cố nhiên, phản đối lựa chọn giới tính không đồng nghĩa phán xét mọi trường hợp chấm dứt thai kỳ. Những quyết định liên quan sức khỏe và hoàn cảnh sinh sản cần được tư vấn chuyên môn từ bác sĩ, tôn trọng, không thể gom vào một lời kết tội, kể cả từ đạo đức tôn giáo luôn tôn trọng sự sống từ hạt mầm bé nhất - bào thai.

Đến giờ tôi hiểu, nếu khuyên một người tiếp tục thai kỳ, điều nên nghĩ tiếp là họ cần hỗ trợ gì, có được an toàn và được chăm sóc không. Lời khuyên có trách nhiệm phải quan tâm đến toàn bộ cuộc sống phía sau quyết định, thay vì dừng ở cảm giác mình vừa nói một điều đúng trên một tiêu chí đạo đức nào đó.

Thực tế, không phải người mẹ nào cũng đủ sức chống lại cả một gia đình. Vì vậy, việc đứng cạnh họ cần được hiểu là cùng nhận trách nhiệm chứ không chỉ động viên cố gắng.

Thực ra, dịp lễ 20-10 hay 8-3, tôi vẫn trân trọng những bó hoa, nhưng mong sự tôn vinh phụ nữ hiện diện cả trong cách gia đình đón một bé gái. Có lẽ lời chúc đẹp nhất là khi nghe tin có thêm thành viên, mọi người vui trước, rồi mới biết đó là con trai hay con gái.

'Trọng nam khinh nữ' nhìn từ những bé gái không chào đời - Ảnh 3.Hơn 40.000 bé gái không có cơ hội chào đời mỗi năm, Việt Nam mất cân bằng giới tính top đầu thế giới

Việt Nam và Trung Quốc có tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất thế giới. Trong khi đó, mỗi năm nước ta có hơn 40.000 bé gái không thể chào đời vì các cặp vợ chồng bỏ thai sau khi biết giới tính, hoặc khi làm thụ tinh trong ống nghiệm thì loại bỏ phôi nữ, chỉ chọn phôi nam.

Thực tế này cho thấy áp lực duy trì dòng tộc và tâm lý chuộng con trai khi kết hợp cùng các kỹ thuật can thiệp trước sinh đã biến định kiến gia đình thành hệ lụy dân số học. Toàn bộ gánh nặng tâm lý lẫn thể xác từ quyết định bỏ thai phần lớn bị dồn ép lên người phụ nữ, trong khi những tác nhân thúc đẩy định kiến thường đứng ngoài cuộc. Ngay cả những câu an ủi hay giục giã sinh thêm con trai trong đời sống thường nhật cũng vô tình củng cố quan niệm xem nhẹ sự xuất hiện của những bé gái. Bình đẳng giới thực chất chỉ đạt được khi mỗi đứa trẻ được chào đón vì giá trị tự thân của chính mình chứ không phải vì nghĩa vụ gia đình hay bài toán thiếu hụt cô dâu trong tương lai. Việc nhìn nhận một bé gái như một giải pháp hôn nhân cho nam giới vô hình trung vẫn hạ thấp nhân phẩm của phụ nữ xuống mức công cụ phục vụ nhu cầu xã hội. Thay đổi tư duy cố hữu và xây dựng một môi trường đón nhận bình đẳng chính là nền tảng cốt lõi để đảm bảo phát triển bền vững.
amung