Tại Triển lãm Quốc tế chuyên ngành Chăn nuôi, Thức ăn chăn nuôi và Chế biến thịt tại Việt Nam (Vietstock 2026), diễn ra sáng 21/10 tại TPHCM, bài toán nâng cao sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi tiếp tục được đặt ra, nhất là với các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ.
Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, trong 9 tháng đầu năm nay, tăng trưởng ngành chăn nuôi đạt gần 5%.
Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt 6,83 triệu tấn, tăng 5%. Sản lượng trứng đạt 15,7 tỷ quả, sữa tươi khoảng 1 triệu tấn. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Dù duy trì đà tăng trưởng, ngành vẫn đối mặt nhiều sức ép từ chi phí đầu vào, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc. Những khó khăn này càng rõ nét ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, hạn chế về vốn, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường.
Chăn nuôi nhỏ lẻ khó chạy đua về sản lượng
Ông Nguyễn Thanh Chiêu, Giám đốc Dự án, HTX Dịch vụ, Sản xuất và Chăn nuôi Đồng Hiệp (TP Đồng Nai) cho biết, những năm gần đây, chăn nuôi trang trại phát triển mạnh, cung cấp lượng lớn sản phẩm ra thị trường. Trong khi đó, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ngày càng khó khăn vì không đủ tiềm lực đầu tư vốn, kỹ thuật và cơ sở vật chất... dẫn đến liên tục thua lỗ.
Chăn nuôi heo tại xã Bình Minh, TP Đồng Nai (Ảnh: Nam Bình).
Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi TP Đồng Nai, cho biết khoảng 10 năm trước, chăn nuôi công nghiệp chỉ chiếm 30% sản lượng sản phẩm chăn nuôi, còn các hộ nhỏ lẻ cung cấp 70%.
Thế nhưng hiện nay, tỷ lệ này gần như đã đảo chiều. Chăn nuôi công nghiệp cung cấp phần lớn sản lượng trứng, thịt, trong khi số lượng nông hộ sống bằng nghề chăn nuôi dù lớn nhưng chỉ cung cấp khoảng 30% tổng sản lượng.
Sự thay đổi này cho thấy lợi thế về quy mô, công nghệ và chi phí đang nghiêng về các doanh nghiệp, trang trại lớn. Với sản xuất nhỏ lẻ, chi phí cao, nguồn cung thiếu ổn định, việc kết nối với các kênh phân phối hiện đại ngày càng khó khăn hơn.
Áp lực càng lớn khi thức ăn chiếm khoảng 70-75% giá thành chăn nuôi. Theo Hiệp hội Chăn nuôi TP Đồng Nai, giá thức ăn tăng khoảng 40% trong hơn 12 năm qua đã đẩy chi phí nuôi một con heo đạt 100 kg từ khoảng 3,5 triệu đồng lên 5,5-5,8 triệu đồng. Trong khi đó, giá bán ra không tăng tương ứng, hiện chỉ ở mức 48.000-53.000 đồng/kg.
Tuy vậy, theo ông Công, chăn nuôi quy mô nhỏ vẫn có lợi thế riêng nếu biết lựa chọn hướng đi phù hợp.
“Lợi thế của nông hộ là nắm giữ quy trình chăn nuôi quy mô nhỏ, tạo ra các sản phẩm thuần tự nhiên. Đây cũng là một ngách thị trường đang có xu hướng tăng trong thời gian qua”, ông Công nhận định.
Tìm thị trường ngách bằng sản phẩm chất lượng cao
Thay vì cạnh tranh trực tiếp về sản lượng và giá bán, một hướng đi được đặt ra là phát triển các sản phẩm có đặc tính riêng, phục vụ nhóm khách hàng sẵn sàng trả giá cao cho chất lượng.
Khách tham quan tìm hiểu công nghệ chăn nuôi mới tại Vietstock 2026 (Ảnh: Nam Bình).
Theo ông Công, với trứng gà, các hộ có thể hợp tác với doanh nghiệp để phát triển mô hình chăn nuôi nhân đạo, hướng đến nhóm khách hàng như nhà hàng, khách sạn và người tiêu dùng có yêu cầu cao về chất lượng.
Ở mô hình này, mỗi hộ nuôi khoảng 2.000-3.000 con gà nhằm bảo đảm điều kiện sống, chăm sóc vật nuôi và chất lượng sản phẩm. Quy mô không lớn nhưng có thể tạo ra sản phẩm khác biệt so với trứng gà công nghiệp đại trà.
“Trứng gà nhân đạo có giá bán gấp đôi so với trứng gà công nghiệp, nhu cầu thị trường cũng đang rất lớn, tạo cơ hội cho chăn nuôi nông hộ có thể bám trụ với nghề”, ông Công cho biết.
Trên thị trường, trứng gà nuôi không lồng (cage-free) hiện có giá khoảng 27.800-36.500 đồng cho hộp 6 quả, tương đương khoảng 4.600đ-6.000 đồng/quả, trong khi trứng gà công nghiệp giao động từ 2.000-3.000 đồng/quả.
Dù vậy, để mô hình phát triển, nông hộ khó có thể tự xoay xở nếu thiếu đầu ra và nguồn vốn. Việc liên kết với doanh nghiệp thu mua, kết hợp ngân hàng tài trợ vốn được kỳ vọng giúp người nuôi có điều kiện đầu tư chuồng trại, duy trì quy trình sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Với chăn nuôi heo, hướng đi tương tự là lựa chọn các giống đặc sản phù hợp với điều kiện địa phương, chú trọng chất lượng thịt thay vì sản xuất đại trà để cạnh tranh về giá. Tuy nhiên, sản phẩm đặc sản chỉ có thể tạo lợi thế khi đáp ứng được yêu cầu về chất lượng ổn định, an toàn thực phẩm và có liên kết với kênh tiêu thụ phù hợp.
Bên cạnh đó, kiểm soát dịch bệnh, minh bạch nguồn gốc vẫn là điều kiện quan trọng. Việc tái đàn thiếu kiểm soát có thể làm tăng nguy cơ lây lan dịch tả lợn châu Phi, gây thiệt hại cho người nuôi. Các hộ nhỏ lẻ cũng cần được tiếp cận dịch vụ thú y, kỹ thuật chăn nuôi an toàn, quy trình xử lý chất thải phù hợp.
Tại triển lãm đang diễn ra ở TPHCM, các doanh nghiệp, chuyên gia và cơ quan quản lý giới thiệu nhiều giải pháp về dinh dưỡng vật nuôi, vắc xin, con giống, thiết bị trang trại, tự động hóa và quản lý chất thải... phù hợp với nhiều mô hình chăn nuôi khác nhau, trong đó có chăn nuôi nông hộ.
Những giải pháp này được kỳ vọng có thể hỗ trợ ngành giảm chi phí, nâng hiệu quả sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường.
Theo ông Phạm Kim Đăng, bên cạnh mục tiêu duy trì tăng trưởng, ngành chăn nuôi cần giải quyết những hạn chế về an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải.
“Với các hộ nhỏ lẻ, tăng sức cạnh tranh không nhất thiết đồng nghĩa với mở rộng đàn bằng mọi giá, mà cần tìm được phân khúc phù hợp, nâng chất lượng sản phẩm và tăng liên kết với doanh nghiệp để duy trì đầu ra ổn định”, ông Đăng nhận định.