Bỏ qua điều hướng

Từ mượn sổ đỏ vay nợ, người phụ nữ miền Tây dựng cơ sở cá thát lát thu 28 tỷ/năm

Từ mượn sổ đỏ vay nợ, người phụ nữ miền Tây dựng cơ sở cá thát lát thu 28 tỷ/năm
Nguồn ảnh: VietnamNet

Từ những ao cá phải mượn của người thân, có lúc trắng tay vì dịch bệnh, bà Nguyễn Kim Thùy đã kiên trì đi qua hơn 30 năm thăng trầm, từng bước nâng giá trị cá thát lát và xây dựng cơ sở có doanh thu khoảng 28 tỷ đồng mỗi năm.

Từ những lần trắng tay đến thương hiệu cá thát lát tiền tỷ

Bà Nguyễn Kim Thùy (52 tuổi, ngụ xã Thạnh Hòa, TP Cần Thơ) sinh ra trong một gia đình nông dân đông anh em. Năm 1993, một năm sau khi lập gia đình, bà khởi nghiệp bằng nghề nuôi cá trê lai.

Không có vốn, vợ chồng bà phải mượn sổ đỏ của ông nội chồng để vay 2,5 triệu đồng. Sau 3 tháng, lứa cá đầu tiên bán được 6 triệu đồng. Trả hết nợ, số tiền còn lại bà làm vốn để tiếp tục nuôi cá.

Thấy nghề nuôi cá trê thuận lợi, bà quyết định đầu tư lớn. Bà dốc toàn bộ tiền tích lũy, mượn ao của người thân và vay ngân hàng hơn 500 triệu đồng để mở rộng quy mô. Tận dụng phần ruộng của cha mẹ ruột, vợ chồng bà tự tay cải tạo thành ao nuôi.

“Chồng dùng len đào đất, còn tôi đứng dưới chuyền, thảy đất lên. Anh em trong dòng họ cũng phụ giúp. Người ta đào ao bằng máy móc chỉ 1-2 ngày là xong, còn vợ chồng tôi làm bằng tay nên mất cả tháng”, bà Thùy nhớ lại.

W-Cá thát lét 90.jpg
Bà Nguyễn Kim Thùy đã dành hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi và chế biến cá. 

Nhưng khi quy mô nuôi ngày càng lớn, biến cố bất ngờ xảy ra. Cá mắc bệnh, chết hàng loạt khiến vốn liếng gần như mất sạch. Đến hạn đáo hạn, ngân hàng không tiếp tục cho vay, gia đình bà phải chạy vạy lo trả nợ.

Trong lúc khốn khó, điều bà nhớ nhất không phải số tiền đã mất mà là sự giúp đỡ của người thân.

Biết bà gặp khó, người thân trong gia đình mang sổ đỏ đến cho mượn để bà thế chấp ngân hàng vay tiền. Có người đưa vàng để bà xoay xở. “Hành động và tình cảm của người thân khiến tôi rất xúc động, trở thành động lực để mình tiếp tục phấn đấu”, bà Thùy nói.

Sau cú ngã đó, bà không bỏ cuộc mà tìm hướng khác để kiếm sống, vừa trang trải gia đình vừa lo cho các con ăn học.

Bà dựng một quán cà phê nhỏ trên phần đất của gia đình. Thấy bán cà phê thu nhập không đáng kể, bà chuyển sang mở quán ăn, rồi tự học cách chế biến món ăn theo yêu cầu và khẩu vị của khách.

Khách gọi những món bà chưa biết nấu như cá lóc, lươn, ếch, bà lại hỏi cách chế biến rồi làm thử. Mỗi người một khẩu vị, bà ghi nhớ rồi điều chỉnh món ăn cho phù hợp.

Quán ngày càng đông, có thời điểm quán phục vụ 30-40 bàn khách mỗi ngày. Vừa đi chợ vừa nấu ăn từ sáng đến tối, công việc vất vả khiến bà nhiều lúc kiệt sức. Vì thế, bà bắt đầu nghĩ đến việc tìm một công việc ổn định hơn.

W-Cá Thát lát 2.jpg
Bà Nguyễn Kim Thùy cho cá ăn trên bể nổi, mô hình được bà thử nghiệm từ đầu năm 2026.
W-Cà That lat.jpg
Mỗi bể có thể nuôi khoảng 5,5 tấn cá.
W-Cá Thát Lát 22.jpg
Cá thát lát phát triển tốt trong bể nổi, mô hình giúp kiểm soát nguồn nước và hạn chế dịch bệnh.

Năm 2014, bà cùng chồng tính chuyện chuyển nghề. Chồng bà sang làm nghề lái cá tại chợ Bình Điền (TPHCM). Lần đầu buôn cá rô, do chưa có kinh nghiệm, bà chịu lỗ khoảng 200 triệu đồng. Không bỏ cuộc, bà rút kinh nghiệm rồi chuyển sang thu mua cá thát lát.

Đến năm 2015, khi giá cá thát lát giảm mạnh, chứng kiến người nuôi điêu đứng vì đầu ra bấp bênh, bà nhận ra nếu chỉ bán cá nguyên liệu thì người nông dân rất dễ rơi vào cảnh được mùa mất giá.

Từ đó, bà nảy ra ý tưởng chế biến sâu để nâng giá trị con cá thát lát.

Trước đó, một số món cá thát lát do bà chế biến tại quán đã được thực khách yêu thích. Người ăn tại quán mua về nhà, mang đi đãi tiệc rồi giới thiệu cho người khác. Đơn hàng vì thế tăng dần.

Không chỉ bán cá, phải làm chủ chuỗi giá trị

Dù chồng nhiều lần cằn nhằn vì sản lượng còn ít, bà vẫn quyết tâm đầu tư tiền làm bao bì, xét nghiệm mẫu, công bố sản phẩm để xây dựng thương hiệu riêng.

Năm 2015, bà đăng ký thương hiệu độc quyền cá thát lát Kỳ Như.

“Tôi nghĩ sản phẩm muốn phát triển thì phải có thương hiệu, phải làm bài bản”, bà Thùy chia sẻ.

Sản phẩm đầu tiên là cá thát lát muối sả còn xương. Trong quá trình bán hàng, bà nhận thấy người lớn tuổi và trẻ em gặp khó khăn khi ăn cá vì nhiều xương. Từ thực tế đó, bà bắt đầu nghiên cứu cách làm cá thát lát rút xương.

W-Cá thát lát 7.jpg
Bà Thùy kiểm tra, hướng dẫn công nhân trong công đoạn nạo cá thát lát.

Bà thử nhiều cách chế biến, cho mọi người dùng thử rồi tiếp tục điều chỉnh công thức. Sản phẩm nào được thị trường đón nhận mới tiếp tục đầu tư sản xuất.

Từ một món ăn trong quán, cá thát lát dần trở thành sản phẩm hàng hóa.

Năm 2019, bà Thùy thành lập hợp tác xã (HTX). Từ 11 thành viên ban đầu, đến nay, HTX có 56 thành viên, với tổng diện tích vùng nuôi khoảng 17ha, trong đó gia đình bà có 5ha.

HTX cung ứng con giống, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho người dân với mức giá ổn định, thường cao hơn giá thị trường khoảng 2.000-10.000 đồng/kg, theo bà Thùy.

Việc liên kết giúp người nuôi có đầu ra ổn định, trong khi HTX chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến.

Từ kinh nghiệm từng nhiều lần lao đao vì giá cá, bà Thùy đặc biệt chú trọng xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, từ tuyển chọn cá bố mẹ, sản xuất con giống, nuôi thương phẩm đến chế biến. Quá trình nuôi được kiểm soát về nguồn nước, thức ăn, việc sử dụng thuốc thú y và tuân thủ quy định về kháng sinh.

HTX hiện có 11 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó 10 sản phẩm 4 sao và một sản phẩm 5 sao cấp quốc gia là cá thát lát rút xương tẩm gia vị.

Sản phẩm của HTX Kỳ Như hiện có mặt tại khoảng 20 tỉnh, thành, được phân phối qua các hệ thống siêu thị và xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc. Theo bà Thùy, tổng doanh thu của cơ sở đạt khoảng 28 tỷ đồng/năm, lợi nhuận đạt vài tỷ đồng.

W-Cá thát lác 8.jpg
Cá thát lát được nạo thịt để chế biến thành các sản phẩm.

Nuôi cá trên cạn bằng bể nổi

Đầu năm 2026, bà tiếp tục đầu tư thử nghiệm mô hình nuôi cá thát lát trên cạn bằng bể nổi, kết hợp hệ thống lọc và xử lý nước. Mỗi bể có thể nuôi khoảng 5,5 tấn cá.

Theo bà, mô hình này giúp kiểm soát tốt nguồn nước, hạn chế dịch bệnh và đặc biệt phù hợp với những hộ có ít đất sản xuất. Nếu thành công, bà mong muốn có thể nhân rộng để người dân có thêm sinh kế.

Không chỉ đầu tư cho vùng nguyên liệu, bà còn chú trọng hiện đại hóa nhà máy. Nhiều công đoạn như đánh vảy, tách xương, quết chả, trộn gia vị, hấp, chiên, hút chân không có máy móc hỗ trợ.

HTX áp dụng các tiêu chuẩn ISO 22000:2018, HACCP, VietGAP, đầu tư kho bảo quản, hệ thống xử lý nước thải và từng bước tự động hóa sản xuất.

Tuy nhiên, bà không muốn tự động hóa hoàn toàn. Một số công đoạn như tách xương, xẻ cá, ướp cá vẫn được kết hợp thủ công để tạo việc làm cho phụ nữ địa phương.

Nhìn lại hơn 20 năm lập nghiệp, bà không xem những lần thất bại là điều đáng quên. Ngược lại, mỗi lần trắng tay lại cho bà thêm một bài học để bước tiếp.

Bà Thùy từng được bình chọn là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi toàn quốc và năm 2023 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Khởi nghiệp từ nghề nuôi cá trê lai năm 1993 với vốn vay 2,5 triệu đồng, bà Nguyễn Kim Thùy tại xã Thạnh Hòa, thành phố Cần Thơ từng đối mặt nguy cơ phá sản do sự cố dịch bệnh khiến toàn bộ vốn liếng tan biến. Sự hỗ trợ kịp thời từ nguồn vay thế chấp sổ đỏ và tài sản của người thân đã giúp gia đình vượt qua khoản nợ ngân hàng hơn 500 triệu đồng. Quyết tâm không dừng lại, bà Thùy chuyển sang kinh doanh quán ăn nhằm tạo nguồn thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống và nuôi các con ăn học. Đến năm 2014, gia đình bà bước vào lĩnh vực thu mua thủy sản tại thành phố Hồ Chí Minh và nhanh chóng chuyển hướng sang mặt hàng cá thát lát sau thất bại ban đầu với cá rô. Trước thực trạng giá cá nguyên liệu sụt giảm mạnh vào năm 2015 khiến người nuôi lâm vào cảnh bấp bênh, bà đã chủ động nghiên cứu giải pháp chế biến sâu nhằm gia tăng giá trị sản phẩm. Hướng đi chiến lược này giúp nâng cao chuỗi giá trị nông sản địa phương, giảm thiểu rủi ro bấp bênh từ thị trường tiêu thụ cá tươi. Đến nay, mô hình sản xuất và chế biến cá thát lát của bà Thùy đã phát triển mạnh mẽ, mang lại doanh thu trung bình khoảng 28 tỷ đồng mỗi năm. Từ đầu năm 2026, cơ sở tiếp tục ứng dụng công nghệ nuôi cá trong bể nổi với sản lượng khoảng 5,5 tấn mỗi bể nhằm tối ưu hóa việc kiểm soát nguồn nước và hạn chế dịch bệnh. Hành trình hơn 30 năm thăng trầm của người phụ nữ miền Tây khẳng định tầm quan trọng của tư duy đổi mới trong sản xuất nông nghiệp hiện đại.