Vượt qua mục tiêu vốn đầu tư và giải quyết việc làm, yêu cầu then chốt đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện nay là chuyển giao công nghệ, phát triển R&D (Nghiên cứu và Phát triển), đồng thời, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự chuyển dịch rõ nét về chất tại các trung tâm kinh tế lớn đang mở ra cơ hội để Việt Nam nâng cao năng lực nội sinh, từng bước hiện thực hóa mục tiêu tự chủ và làm chủ công nghệ.
Từng bước làm chủ công nghệ
Công ty cổ phần Masan High-Tech Materials là thành viên của Tập đoàn Masan đang vận hành mỏ vonfram đa kim Núi Pháo và Nhà máy tinh luyện Vonfram Masan (MTC) tại tỉnh Thái Nguyên. Công ty có công nghệ và hệ thống thiết bị tiên tiến, hiện đại hàng đầu thế giới hiện nay. MTC được đầu tư gần 100 triệu USD, trên cơ sở hợp tác với H.C. Starck (Đức), sử dụng công nghệ và thiết bị của Đức, vận hành từ năm 2015. Gần 20 kỹ sư Việt Nam của nhà máy được đưa sang Đức đào tạo, sau đó tiếp tục làm việc cùng các chuyên gia quốc tế. Có thời điểm, nhà máy có khoảng 30 chuyên gia nước ngoài. Sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, đến năm 2023, đội ngũ kỹ sư Việt Nam đã hoàn toàn thay thế chuyên gia nước ngoài trong vận hành và quản lý nhà máy.
Theo ông Dương Văn Đức, Giám đốc vận hành MTC, các kỹ sư Việt Nam đã làm chủ công nghệ, vận hành nhà máy an toàn, ổn định, bảo đảm chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng toàn cầu, đồng thời chủ động cải tiến quy trình, tối ưu hiệu quả và giảm chi phí. MTC hiện sản xuất sản phẩm vonfram công nghệ cao, phục vụ các ngành điện tử, hàng không vũ trụ, ô-tô, năng lượng, dầu khí và thiết bị y tế. Quá trình từ tiếp nhận công nghệ, làm theo hướng dẫn đến chủ động vận hành, cải tiến cho thấy, một giá trị quan trọng mà FDI mang lại, đó là tạo dựng năng lực làm chủ công nghệ cho lực lượng lao động Việt Nam.
Sức lan tỏa của FDI còn được “đo” bằng khả năng hình thành nguồn nhân lực kỹ thuật tại chỗ và từng bước mở rộng các công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Trung tâm đào tạo đóng vai trò cầu nối để tuyển chọn sinh viên ngay từ khi còn học tại trường, đào tạo theo nhu cầu và vị trí việc làm của doanh nghiệp. Thông qua các chương trình này, công ty rút ngắn thời gian đào tạo lại; đồng thời, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực và ngôn ngữ để vào làm việc ngay. Hằng năm, chương trình đào tạo khoảng 400-600 sinh viên.
Ông Nguyễn Đình Dương, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý nguồn nhân lực Goertek Việt Nam
Thành phố Bắc Ninh hiện có hơn 3.600 dự án FDI, tổng vốn đăng ký hơn 50,4 tỷ USD. Quy mô sản xuất lớn đặt ra yêu cầu về nguồn lao động, đi cùng với việc chuẩn bị lực lượng kỹ thuật có khả năng đáp ứng những công đoạn ngày càng phức tạp của các doanh nghiệp FDI. Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học kỹ thuật Goertek Vina (Goertek Việt Nam) có mặt tại Bắc Ninh từ năm 2013. Hiện, doanh nghiệp là một trong những nhà đầu tư công nghệ có hoạt động sản xuất quy mô lớn tại địa phương, tạo việc làm cho đông đảo lao động và đóng góp tích cực vào sự phát triển công nghiệp, xuất khẩu của Bắc Ninh. Đáng chú ý, từ năm 2022, doanh nghiệp đã khai trương Trung tâm Đào tạo kỹ thuật công nghệ Goertek Việt Nam, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo tại Bắc Ninh cũng như các trường đại học trên cả nước.
Ông Nguyễn Đình Dương, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý nguồn nhân lực Goertek Việt Nam, cho biết: Trung tâm đào tạo đóng vai trò cầu nối để tuyển chọn sinh viên ngay từ khi còn học tại trường, đào tạo theo nhu cầu và vị trí việc làm của doanh nghiệp. Thông qua các chương trình này, công ty rút ngắn thời gian đào tạo lại; đồng thời, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực và ngôn ngữ để vào làm việc ngay. Hằng năm, chương trình đào tạo khoảng 400-600 sinh viên.
Trường cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh là một điểm sáng kết nối doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong chiến lược đào tạo, phát triển về nguồn nhân lực. Tiến sĩ Vũ Quang Khuê, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Bên cạnh mô hình đào tạo song hành với Goertek Việt Nam đang tiếp tục được triển khai hiệu quả, trường còn có hai lớp trọng điểm, xây dựng mô-đun học tập theo chuẩn của Đức cho nghề cắt gọt kim loại (cơ khí chính xác) và điện tử công nghiệp. Sinh viên sẽ học trong lớp 4.0 thông minh, xong mô-đun nào có thể đi làm ngay thay vì phải hoàn thành cả quá trình như trước. Nhà trường cũng kết hợp với một số công ty cùng tuyển sinh, mở lớp đào tạo, thực tập tại công ty và ký hợp đồng (lương bậc 2) cho sinh viên, ưu tiên dành nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp lớn như Samsung, Luxshare-ICT, Canon, Foxconn, LG.
Tương tự, mô hình hợp tác giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn LG Display Việt Nam Hải Phòng và Trường đại học Hải Phòng tạo được nền tảng để chuyển từ mô hình “đào tạo rồi tuyển dụng” sang đào tạo theo nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Theo đánh giá của ông Ha Jun Chul, Phó Tổng Giám đốc khối Hành chính-Nhân sự, Công ty trách nhiệm hữu hạn LG Display Việt Nam Hải Phòng, công ty đang phối hợp các trường đại học ở Hải Phòng cũng như các trường đại học trong khu vực để xây dựng nguồn nhân lực tại chỗ và bảo đảm nguồn cung nhân lực ổn định. Sự hợp tác này không chỉ dừng lại ở việc cung ứng nhân lực, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ sinh thái nhân lực tại địa phương và hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn trong chuỗi cung ứng
Một thước đo khác cho thấy hiệu quả FDI đang được thể hiện rõ, đó là khả năng kéo doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, đến nay, thành phố thu hút gần 1.900 dự án FDI từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn 53 tỷ USD vốn đăng ký, tạo thị trường lớn cho công nghiệp hỗ trợ Hải Phòng. Khu vực FDI mang đến vốn, nhà máy, từng bước kéo doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ và nâng chất lượng nguồn nhân lực.
Đơn cử, Công ty An Trung Industries (thuộc hệ sinh thái An Phát) có nhà máy tại phường Việt Hòa (Hải Phòng). Từ năm 2019, doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 2 cho Samsung, thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn Elentic Việt Nam; sau đó trở thành nhà cung ứng cấp 1 cho Brother Việt Nam. Hiện, An Trung Industries gia công linh kiện cho nhiều tập đoàn như Samsung, Foxconn, Panasonic, Brother Việt Nam. Doanh nghiệp đang đầu tư hơn 1.150 tỷ đồng xây dựng nhà máy sản xuất khuôn mẫu và linh kiện nhựa kỹ thuật cao tại Khu công nghiệp An Phát 1, dự tính đạt công suất 15.500 tấn sản phẩm và 340 bộ khuôn hằng năm.
Một doanh nghiệp khác ở Hải Phòng cũng đã tham gia chuỗi cung ứng FDI là Công ty trách nhiệm hữu hạn Mạnh Toàn Plastic nằm trong Cụm công nghiệp Nguyên Giáp, xã Nguyên Giáp (Hải Phòng), chuyên gia công và sản xuất các sản phẩm nhựa kỹ thuật, nhựa gia dụng cao cấp phục vụ các thị trường xuất khẩu; hiện tại đang cung ứng 70% số sản phẩm cho các doanh nghiệp FDI đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc. Theo Phó Giám đốc công ty Đỗ Văn Quang, năm 2026, doanh nghiệp được lựa chọn tham gia chương trình hỗ trợ xây dựng nhà máy thông minh của Samsung Việt Nam và Bộ Công thương. Với việc triển khai dự án nhà máy thông minh, đây là cách doanh nghiệp FDI hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng năng lực thay vì chỉ dừng ở kết nối mua-bán. Công ty hy vọng có thể nâng cao năng lực sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu thời gian tới.
Chọn lọc dòng vốn, nâng giá trị của FDI
Thành phố Đồng Nai hiện có 58 khu công nghiệp được thành lập, 44 khu đang hoạt động, với tổng diện tích hơn 15.100ha; hơn 2.250 dự án FDI của 51 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổng vốn hơn 43 tỷ USD. Thời gian qua, thành phố đặt ra một yêu cầu cao hơn đối với thu hút FDI, đó là không tiếp nhận những dự án sử dụng nhiều lao động, nhiều đất nhưng hiệu quả thấp; ưu tiên công nghệ cao, bán dẫn, hàng không, công nghiệp sạch, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng 0.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Nguyễn Kim Long, địa phương ưu tiên các dự án sạch, công nghệ cao, đồng thời, xem xét năng lực tài chính, quản trị và cam kết của nhà đầu tư. Khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và tiến lên những công đoạn có giá trị cao hơn là một tiêu chí trong lựa chọn FDI.
Địa phương ưu tiên các dự án sạch, công nghệ cao, đồng thời, xem xét năng lực tài chính, quản trị và cam kết của nhà đầu tư. Khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và tiến lên những công đoạn có giá trị cao hơn là một tiêu chí trong lựa chọn FDI.
Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai Nguyễn Kim Long
Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Tương Lai Trương Quốc Cường cho biết, hoạt động trong lĩnh vực gia công cơ khí, nhựa kỹ thuật, công ty cung cấp các giải pháp tích hợp từ phát triển sản phẩm, chế tạo khuôn mẫu, gia công linh kiện đến sản xuất theo yêu cầu của khách hàng. Công ty hợp tác với nhiều doanh nghiệp FDI, nhất là nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, hướng tới tiếp cận các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến, nâng cao năng lực nội địa hóa, phát triển nhà máy thông minh và trở thành đối tác tin cậy trong chuỗi cung ứng FDI.
Một chuyển động đáng chú ý đang diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi dòng vốn FDI công nghệ cao ngày càng gắn với trung tâm dữ liệu, R&D, thiết kế và sản xuất công nghệ cao.
Tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP), trong quý I/2026, hai dự án FDI được cấp phép có tổng vốn gần 590 triệu USD là Trung tâm dữ liệu siêu quy mô bán buôn Evolution và Nhà máy Techtronic Tools Việt Nam.
Evolution có vốn đăng ký gần 509 triệu USD, bổ sung năng lực hạ tầng dữ liệu; Techtronic Tools Việt Nam có vốn đầu tư 81 triệu USD, sản xuất thiết bị điện tử thông minh và gắn với hoạt động R&D. SHTP hiện có 165 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 13,863 tỷ USD; trong đó 57 dự án FDI có tổng vốn hơn 11 tỷ USD. Nhiều tập đoàn công nghệ như Intel, Samsung, Nipro, Jabil, Nidec đang hoạt động tại đây.
Từ đầu năm 2026 đến nay, tổng vốn FDI đăng ký trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt 17,225 tỷ USD, gấp hơn bốn lần cùng kỳ năm 2025 và đạt 156,6% số kế hoạch năm. Các dự án cấp mới đáng chú ý gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (vốn hơn 4,9 tỷ USD), Trung tâm dữ liệu AI Factory (vốn khoảng 2,1 tỷ USD), gắn với hạ tầng cảng biển, logistics, hạ tầng số và trí tuệ nhân tạo. Đáng chú ý, thành phố đang định hướng hình thành Trung tâm Phát triển Công nghệ chiến lược trên quỹ đất gần 53ha tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, bán dẫn và R&D. Trung tâm dự tính gồm khu dịch vụ công nghệ cao, khu sản xuất công nghệ cao và khu nghiên cứu phát triển, ươm tạo.
Theo ông Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, đây không phải khu đất công nghiệp cho thuê thông thường, mà hướng tới một hệ sinh thái dành cho các tập đoàn công nghệ toàn cầu, quỹ đầu tư công nghệ và các nhà phát triển công nghệ lõi. Định hướng này thể hiện sự chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng, từ gia công, lắp ráp sang công nghệ lõi và chuỗi giá trị công nghệ chuyên sâu.
Những chuyển động từ các trung tâm kinh tế nêu trên cho thấy, yêu cầu đối với FDI đang chuyển từ “thu hút được bao nhiêu” sang “tạo ra được gì”. Vốn và việc làm vẫn là những đóng góp quan trọng. Nhưng trong giai đoạn này, hiệu quả của FDI còn phải được nhìn từ khả năng chuyển giao và làm chủ công nghệ, đào tạo đội ngũ kỹ sư, hình thành năng lực R&D, phát triển doanh nghiệp hỗ trợ và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Thu hút FDI không chỉ là mở cửa đón dòng vốn, mà phải đồng thời tạo dựng năng lực để dòng vốn ấy gắn với nền kinh tế trong nước, tạo ra giá trị cao hơn.
NHÓM PHÓNG VIÊN THƯỜNG TRÚ