Bỏ qua điều hướng
•

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Pháp kệ truyền thừa với hàng triệu tăng ni, phật tử

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Pháp kệ truyền thừa với hàng triệu tăng ni, phật tử
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Điểm nổi bật nhất của dòng thiền Liễu Quán là bài Pháp kệ truyền thừa do tổ Liễu Quán để lại và đến nay đã truyền thừa sang đời thứ 16 - 17, tiếp tục phát triển trong và ngoài nước với hàng triệu tăng ni, phật tử.

Hơn 20 công trình nghiên cứu bài Pháp kệ

Cuối năm 2023, nhân tưởng niệm 281 năm tổ sư Liễu Quán viên tịch, tăng ni, phật tử trong và ngoài nước quy tụ về cố đô Huế làm lễ tảo tháp và dự hội thảo khoa học "Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển".

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Pháp kệ truyền thừa với hàng triệu tăng ni, phật tử- Ảnh 1.

Bia Vô lượng tại tháp tổ ghi chép hành trạng và tiểu sử của tổ sư Liễu Quán

ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN

Hội thảo do Học viện Phật giáo VN tại TP.Huế phối hợp Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo VN tỉnh Thừa Thiên-Huế (nay là TP.Huế), Viện Nghiên cứu Phật học VN, Viện Nghiên cứu tôn giáo và ĐH Huế tổ chức. Đây là hội thảo khoa học quốc tế đầu tiên về thiền phái Liễu Quán, quy tụ 122 bài tham luận của chư tôn thiền đức và học giả trong lẫn ngoài nước.

Hội thảo tập trung phân tích sâu 2 nội dung chính: Pháp kệ truyền thừa và những đóng góp văn hóa của dòng thiền trong tiến trình lịch sử. Về bài Pháp kệ truyền thừa, theo thượng tọa, tiến sĩ Thích Nguyên Đạt (Phó viện trưởng Học viện Phật giáo tại Huế), có 12 câu chữ Hán, mỗi câu 4 chữ, từng được nhiều học giả dịch sang Việt ngữ.

Nguyên văn chữ Hán bài Pháp kệ được phiên âm:

Thiệt tế đại đạo

Tánh hải thanh trừng

Tâm nguyên quảng nhuận

Đức bổn từ phong

Giới định phước huệ

Thể dụng viên thông

Vĩnh siêu trí quả

Mật khế thành công

Truyền trì diệu lý

Diễn xướng chánh tông

Hạnh giải tương ưng

Đạt ngộ chơn không.

"Tính đến nay, có khoảng 20 công trình và bài nghiên cứu phân tích văn bản cũng như tư tưởng của bài kệ truyền thừa", thượng tọa Thích Nguyên Đạt cho biết. Tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu của nhóm Nguyễn Hữu Sử - Phan Trương Quốc Trung, các vị sư Thích Nhất Hạnh, Thích Viên Giác, Thích Tâm Ý…

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Pháp kệ truyền thừa với hàng triệu tăng ni, phật tử- Ảnh 2.

Kỷ yếu hội thảo “Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển” tại Huế năm 2023, tài liệu mà PV trích dẫn

ẢNH: BÙI NGỌC LONG

Trong đó, bài nghiên cứu của Thích Viên Giác đúc kết: "Pháp kệ truyền thừa của tổ Liễu Quán định hướng đường lối tu học cho các thế hệ đương thời… Toàn bài kệ có thể chia làm 6 lộ trình tu hành: 1, Thể tính vắng lặng; 2, Tâm thức thánh thiện; 3, Công phu hoàn chỉnh; 4, Trí tuệ vẹn toàn; 5, Hóa độ nhân gian; 6, Thành tựu thánh quả".

Hàng ngàn ngôi chùa với hàng triệu phật tử

Theo hòa thượng Thích Giác Đạo (trú trì tổ đình Kim Tiên, TP.Huế), bài kệ gồm 48 chữ, mỗi chữ dùng làm chữ đầu cho pháp danh của môn đồ theo từng thế hệ truyền thừa. Chữ "Thiệt" ở câu đầu tiên chính là chữ khởi đầu trong pháp danh Thiệt Diệu của Tổ sư Liễu Quán. Tất cả 47 đệ tử đắc pháp của ngài đều mang chữ "Tế" - chữ thứ hai trong bài kệ - đứng đầu pháp danh, như các ngài Tế Hiệp, Tế Mẫn, Tế Trạm... Các thế hệ tiếp theo cứ thế nối dòng.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Pháp kệ truyền thừa với hàng triệu tăng ni, phật tử- Ảnh 3.

GS Lê Mạnh Thát tại một hội thảo về văn học Phật giáo ở Huế

ẢNH: BÙI NGỌC LONG

GS Lê Mạnh Thát nhìn nhận phổ hệ truyền thừa và quá trình phát triển của thiền phái Liễu Quán đã đóng góp quan trọng cho lịch sử Phật giáo VN và lịch sử dân tộc, nhất là từ giai đoạn chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ 20 đến nay.

Trong gần 300 năm tồn tại, phái thiền này phát triển nhanh chóng với 5 giáo đoàn, do các đệ tử thế hệ thứ nhất thuộc hàng chữ Tế thành lập. Như nhánh của thiền sư Tế Ân Lưu Quang (truyền thừa tại vùng Thuận Hóa), nhánh của thiền sư Tế Nhơn Hữu Phỉ (khởi truyền từ Thuận Hóa, phát triển mạnh tại các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ); nhánh của thiền sư Tế Lập Ứng Am (khởi truyền từ Bình Định); nhánh của thiền sư Tế Căn Từ Chiếu (khởi truyền từ Phú Yên); nhánh của thiền sư Tế Hiển Bửu Dương (khởi truyền từ Khánh Hòa).

Đó là chưa kể các nhánh truyền thừa khác, cũng thuộc hàng chữ Tế nhưng mạch nguồn không nối dài đến nay, như thiền sư Tế Phổ Trí Thông (Thuận Hóa), thiền sư Tế Hiệp Hải Điện (tại Thuận Hóa và vùng Nam Ngãi), thiền sư Tế Trừng Thanh Hoát (Bình Thuận), các thiền sư Tế Duyên Quảng Giác, Tế Đài Khánh Thùy (Phú Yên)...

GS Lê Mạnh Thát cũng cho biết tổ sư Liễu Quán có một trước tác thuộc dạng văn bản sám hối rất phổ biến ở nước ta: Ngũ hối nghi. Nhận thấy nhu cầu đơn giản hóa phương pháp hành trì cho cư dân vùng đất mới Đàng Trong vào thế kỷ 17, ngài đã soạn ra tác phẩm này. Về sau, sách được in tại chùa Khánh Quới (Mỹ Tho) vào năm Giáp Tuất (1934).

Theo hòa thượng Thích Giác Toàn (Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo VN, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN), thiền phái Liễu Quán là phái thiền thuần Việt, có sự dung hòa của 2 thiền phái Tào Động và Lâm Tế, với phương châm "thiền - tịnh song tu", đồng thời lược bỏ các yếu tố mang tính chất Trung Hoa trong tư tưởng thiền học.

Hòa thượng Thích Hải Ấn, Viện trưởng Học viện Phật giáo VN tại Huế, nhận định điểm đặc biệt của dòng thiền là sự liên tục tiếp nối, phát triển song hành cùng bước chân Nam tiến mở mang bờ cõi của dân tộc. Đến nay, thiền phái Liễu Quán đã lan tỏa rộng khắp mọi miền đất nước và ra cả quốc tế với hàng ngàn ngôi chùa cùng hàng triệu môn đồ, tăng ni, phật tử. "Cũng từ dòng thiền này, nhiều bậc tổ sư, cao tăng, cư sĩ đã dấn thân phụng sự đạo pháp và dân tộc, nổi bật là phong trào chấn hưng Phật giáo, hoằng pháp lợi sinh, góp phần tạo nên sự quang huy quốc độ và Phật giáo VN thời hiện đại", Hòa thượng Thích Hải Ấn cho biết. (còn tiếp)

Trải qua gần 300 năm hình thành và phát triển, dòng thiền Liễu Quán đã khẳng định vị thế đặc biệt trong dòng chảy văn hóa tâm linh dân tộc với hàng triệu tăng ni, phật tử trong và ngoài nước. Điểm tựa tư tưởng then chốt của phái thiền thuần Việt này nằm ở bài Pháp kệ truyền thừa gồm 12 câu, tương ứng 48 chữ do Tổ sư Thiệt Diệu Liễu Quán để lại. Đến nay, mạch nguồn truyền thừa đã tiếp nối đến thế hệ thứ 16 và 17, trở thành một hiện tượng tôn giáo có sức sống bền bỉ bậc nhất. Tại hội thảo khoa học quốc tế tổ chức ở cố đô Huế với 122 tham luận, giới nghiên cứu đánh giá bài kệ không chỉ định hình lộ trình tu học mà còn xác lập hệ thống thế thứ chuẩn mực. Thượng tọa Thích Nguyên Đạt cho biết hiện có khoảng 20 công trình phân tích chuyên sâu về nội dung văn bản này, tiêu biểu như nghiên cứu của Thích Nhất Hạnh hay Thích Viên Giác. Trong đó, toàn văn 48 chữ được phân tích thành 6 lộ trình tu hành từ thể tính vắng lặng cho đến khi thành tựu thánh quả. Theo Hòa thượng Thích Giác Đạo, mỗi chữ trong bài kệ được dùng làm chữ lót đầu tiên trong pháp danh của môn đồ theo từng thế hệ nối tiếp. Bắt đầu từ chữ "Thiệt" của tổ sư, 47 đệ tử đắc pháp đầu tiên đều mang chữ "Tế" như Tế Hiệp, Tế Mẫn hay Tế Trạm để tiếp tục lan tỏa mạng mạch giáo pháp. Giáo sư Lê Mạnh Thát khẳng định quá trình mở rộng phổ hệ cùng các giáo đoàn Liễu Quán đóng vai trò rực rỡ, tạo xung lực to lớn cho phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến nay.
amung