Bỏ qua điều hướng

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau?

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của lao động khu vực Nhà nước tính bình quân những năm cuối, còn khu vực tư nhân tính toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau

Theo Luật Bảo hiểm xã hội, lương hưu hằng tháng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu nhân với mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu được áp dụng chung cho người lao động ở khu vực Nhà nước (thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định) lẫn tư nhân.

Theo đó, tỷ lệ hưởng lương hưu của lao động nữ bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Đối với lao động nam, mức lương hưu hằng tháng bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

Trường hợp lao động nam có thời gian đóng từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%.

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau? - 1

Bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khu vực nhà nước được tính bình quân những năm cuối trước khi nghỉ hưu (Ảnh minh họa: Nguyễn Vy).

Trong công thức tính lương hưu, khác biệt lớn nhất giữa người lao động khu vực Nhà nước với khu vực tư nhân là cách tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Theo quy định, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khu vực tư nhân được tính bình quân của toàn bộ thời gian họ tham gia bảo hiểm xã hội.

Còn đối với người lao động khu vực Nhà nước, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được tính bình quân của những năm cuối trước khi nghỉ hưu, tùy vào thời điểm họ tham gia bảo hiểm xã hội.

Do cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội khác nhau dẫn đến cách tính lương hưu hằng tháng của người lao động khu vực nhà nước khác với khu vực tư nhân.

Cách tính khác nhau do căn cứ tính lương khác nhau

Tại các diễn đàn trao đổi giữa cơ quan bảo hiểm xã hội và doanh nghiệp, nhiều lao động cho rằng cách tính lương hưu khác nhau trên là không công bằng với người lao động khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, thực tế do lịch sử tiền lương của người lao động 2 khu vực khác nhau nên cách tính lương hưu hằng tháng được xây dựng khác nhau.

Với người lao động khu vực Nhà nước, căn cứ tính tiền lương là lương cơ sở do Nhà nước quy định. Mức lương cơ sở thường thấp và tăng chậm. Lao động khu vực nhà nước cũng chỉ được tăng lương định kỳ 3 năm 1 lần khi tăng hệ số tiền lương.

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau? - 2

Trong khi đó, lao động khu vực tư nhân được trả lương theo thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Mức lương thỏa thuận này luôn cao hơn so với lương cơ sở và được tăng lương định kỳ hằng năm.

Đặc biệt, từ năm 2008, Chính phủ quy định mức lương tối thiểu theo vùng và quy định người sử dụng lao động không được trả lương cho người lao động khu vực tư nhân thấp hơn mức tối thiểu này.

Quy định trên đảm bảo tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khu vực tư nhân luôn bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng.

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau? - 3

Nếu so sánh mức lương cơ sở và lương tối thiểu vùng giai đoạn 2008 đến nay có thể thấy mức lương tối thiểu vùng luôn cao hơn lương cơ sở rất nhiều.

Tại thời điểm này, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng nhưng lương tối thiểu vùng I là 5.310.000 đồng/tháng, cao gấp 2 lần lương cơ sở.

Do tiền lương cao nên căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khu vực tư nhân cao hơn khá nhiều so với lao động khu vực Nhà nước.

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau? - 4

Cách tính lương hưu giống nhau từ năm 2040

Theo định hướng cải cách tiền lương, thu nhập của người lao động khu vực Nhà nước sẽ được tính toán trả theo vị trí việc làm và tiệm cận với khu vực tư nhân. Do đó, cách tính lương hưu của người lao động khu vực Nhà nước sắp tới cũng sẽ được tính như khu vực tư nhân.

Cụ thể, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của lao động khu vực Nhà nước sẽ được tính bình quân của những năm cuối trước khi nghỉ hưu tùy theo thời điểm tham gia bảo hiểm xã hội như sau:

Vì sao cách tính lương hưu khu vực Nhà nước và tư nhân khác nhau? - 5

Theo bảng trên, đối với người lao động khu vực Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2025 trở đi, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của họ cũng sẽ được tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội. 

Tức là, người lao động khu vực Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 1/1/2025 sẽ có cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội giống như khu vực tư nhân.

Với cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu và cách tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội giống nhau, lương hưu hằng tháng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 1/1/2025 sẽ được tính như nhau, không phân biệt khu vực Nhà nước hay tư nhân.

Thời gian tham gia bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng lương hưu là từ đủ 15 năm trở lên nên người lao động khu vực Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội từ 1/1/2025 được hưởng lương hưu sớm nhất là vào năm 2040. Từ thời điểm đó, cách tính lương hưu của họ sẽ giống người lao động khu vực tư nhân.

Sự khác biệt trong công thức tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chính là yếu tố cốt lõi dẫn đến chênh lệch lương hưu giữa người lao động khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân. Trong khi tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75% được áp dụng chung cho cả hai khu vực, mức bình quân tiền lương của lao động tư nhân lại được tính trên toàn bộ thời gian tham gia bảo hiểm. Ngược lại, đối với lao động thuộc khu vực Nhà nước, chỉ số này được tính bình quân của một số năm cuối trước khi nghỉ hưu tùy thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia. Nguyên nhân cốt lõi của cơ chế tính toán này xuất phát từ bản chất và lịch sử quy định hệ thống tiền lương vốn có nhiều điểm khác biệt giữa hai khu vực. Ở khu vực Nhà nước, tiền lương tham chiếu theo mức lương cơ sở do Nhà nước ban hành với đặc điểm khởi điểm thấp và chu kỳ tăng hệ số định kỳ kéo dài tới 3 năm. Trái lại, tiền lương của lao động khu vực tư nhân dựa trên thỏa thuận trực tiếp với chủ sử dụng lao động, thường cao hơn đáng kể so với lương cơ sở và được điều chỉnh định kỳ hằng năm. Bên cạnh đó, chính sách lương tối thiểu vùng áp dụng từ năm 2008 dành cho khu vực tư nhân cũng tạo điều kiện để mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động tăng trưởng nhanh hơn qua các năm. Việc áp dụng cách tính bình quân những năm cuối cho khu vực Nhà nước nhằm bù đắp cho giai đoạn khởi điểm lương thấp và tốc độ tăng chậm. Sự phân hóa trong phương thức tính hưu trí vì vậy thể hiện nỗ lực cân bằng lợi ích hài hòa giữa hai khu vực kinh tế dựa trên thực tế thu nhập.