Sinh kế từ cây bản địa Cơ Tu
Từng lên vùng cao Tây Giang (tỉnh Quảng Nam cũ, nay là TP. Đà Nẵng) trong những chuyến cứu trợ, ông Phạm Thanh Hoàng, Giám đốc Công ty CP Thực phẩm Vườn rừng Tây Giang, không nghĩ có ngày mình lại gắn bó với một loại cây rừng của đồng bào Cơ Tu.
Những lần được người dân đãi món rượu tr’đin, ông chú ý đến loại cây bản địa này và nảy ra ý tưởng phát triển sản phẩm từ nhựa cây. Cùng một người bạn có chuyên môn công nghệ thực phẩm, ông Hoàng nghiên cứu, chế biến nhựa tr’đin thành siro mật tr’đin, loại chất tạo ngọt tự nhiên có lợi cho sức khỏe.
Để mở lối sinh kế cho bà con Cơ Tu ở địa phương, ông vận động các hộ dân liên kết thành hợp tác xã và bao tiêu sản phẩm để mở rộng vùng trồng. Hợp tác xã đã tạo thêm thu nhập bền vững cho nhiều hộ dân, đặc biệt là các chị em phụ nữ.
“Việc ươm trồng cây tr’đin phục vụ sản xuất sẽ góp phần phủ xanh rừng, tái tạo nguồn nước. Đồng thời, dự án tạo công ăn việc làm tại chỗ cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số người Cơ Tu, hướng đến phát triển sinh kế bền vững cho các thế hệ sau”, ông Hoàng nói.
Ở thời điểm hiện tại, Vườn rừng Tây Giang cũng đang tập trung vào các khâu để chuyển đổi xanh, từ hoàn thiện sản phẩm mẫu, thực hành tiết kiệm nước, hạn chế bao bì nhựa, thử nghiệm chai bằng tre và mực in nhãn thân thiện với môi trường…
Cùng với việc trồng rừng, mở rộng vùng nguyên liệu và phát triển các dòng sản phẩm từ mật cây tr’din, ông Hoàng cũng xây dựng sơ đồ quản lý và gắn mã QR định vị cho từng thân cây nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc. Việc ứng dụng công nghệ số giúp đơn vị kiểm soát vùng trồng, theo dõi quá trình sản xuất và minh bạch thông tin nguyên liệu.
Trong hành trình đó, Vườn rừng Tây Giang tham gia chương trình Tài chính xanh và Chuyển đổi xanh thuộc dự án “Tăng cường năng lực tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa và hợp tác xã do phụ nữ làm chủ hoặc do phụ nữ lãnh đạo”.
Chương trình do Trung tâm Sáng tạo và Ươm tạo Doanh nghiệp (Trường ĐH Ngoại Thương) thực hiện, trong khuôn khổ dự án “Chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt” (dự án PWG) do Liên minh châu Âu tài trợ và Tổ chức Oxfam tại Việt Nam quản lý.
“Thông qua chương trình, chúng tôi được đào tạo, cố vấn trực tiếp với chuyên gia và kết nối với các tổ chức tài chính. Những hoạt động này giúp doanh nghiệp nhìn lại kế hoạch chuyển đổi xanh dưới góc độ tài chính và mô hình kinh doanh, xác định rõ giải pháp, nguồn lực cần thiết và giá trị có thể tạo ra”, ông Hoàng nói.
Khơi thông nguồn lực cho sáng kiến xanh
Không riêng Vườn rừng Tây Giang, ở nhiều địa phương miền Trung, những sáng kiến kinh tế xanh từ các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ hay hợp tác xã đang được hình thành từ chính nhu cầu cải thiện sinh kế, bảo vệ tài nguyên và gìn giữ văn hóa bản địa.
Tại Đà Nẵng, một trong những sáng kiến được Tổ chức Oxfam đồng hành là mô hình phụ nữ dân tộc Cơ Tu phát triển chuỗi giá trị cây chè dây tại xã Sông Vàng. Hợp tác xã đang cải thiện khâu chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm và tìm kiếm cơ hội thị trường.
Ở Huế, các nhóm phụ nữ làm nghề chế biến thủy sản đang thay đổi phương thức sản xuất, trong đó có việc chuyển từ sử dụng thùng nhựa sang chum sành để chế biến sản phẩm theo hướng an toàn, thân thiện hơn với môi trường.
Theo bà Lê Thúy Hạnh, Quản lý chương trình Bình đẳng giới và dự án PWG (Tổ chức Oxfam), đó đều là những sáng kiến đang trong quá trình phát triển, nhưng cho thấy giá trị bền vững gắn với các hoạt động kinh tế xanh.
Không ít mô hình do phụ nữ khởi xướng, tổ chức và dẫn dắt, nhưng khả năng tiếp cận nguồn lực để phát triển vẫn còn hạn chế. Bà Hạnh nhìn nhận, một doanh nghiệp lớn có thể có đủ nhân lực, công nghệ, tài sản để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và tiếp cận vốn.
“Trong khi đó, với những hợp tác xã nhỏ ở miền núi hay cơ sở sản xuất do phụ nữ làm chủ, ngay cả việc xây dựng phương án kinh doanh, chuẩn bị hồ sơ vay vốn hoặc chứng minh hiệu quả môi trường cũng là thách thức lớn”, bà Hạnh nói.
Ở góc độ tổ chức hỗ trợ, PGS.TS Lê Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và Ươm tạo (Trường ĐH Ngoại Thương) cho rằng cần tạo không gian để doanh nghiệp và các tổ chức tài chính đối thoại, hiểu rõ nhu cầu cũng như những yêu cầu của nhau.
Các hoạt động đào tạo, tư vấn, kết nối và cố vấn, không chỉ giúp doanh nghiệp, hợp tác xã nhận diện điểm yếu trong phương án kinh doanh mà còn giúp họ hiểu rõ hơn yêu cầu hồ sơ, tiêu chí thẩm định của ngân hàng để tiếp cận nguồn vốn mồi cho các dự án xanh.
Theo chuyên gia này, một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp bền vững cần có sự gắn kết giữa trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Bởi, vốn mồi cho các dự án xanh không chỉ nằm ở tài chính mà còn là tri thức, hỗ trợ kỹ thuật, năng lực quản trị, sự kết nối và những cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro.
“Khi dự án hỗ trợ kết thúc, các doanh nghiệp, hợp tác xã cần có đủ năng lực để tiếp tục duy trì kết nối, thậm chí trở thành những chủ thể dẫn dắt, hỗ trợ các sáng kiến xanh trong cộng đồng”, bà Hà nói.