Hỗ trợ tăng trưởng tín dụng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) VN vừa ban hành Thông tư 50/2026 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của NH thương mại, chi nhánh NH nước ngoài (viết tắt TT50) có hiệu lực từ 1.12.2026. Điểm nhấn của TT50 tiếp tục áp dụng tỷ lệ LDR thay vì tỷ lệ cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động (CDR) như dự thảo đưa ra trước đó. Không những vậy, TT50 còn nâng trần tỷ lệ LDR lên 95% (thay vì 85% như hiện tại) được gắn với lộ trình áp dụng hai chỉ tiêu tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR). Các NH cũng được phép đăng ký áp dụng sớm LCR, NSFR. Trong trường hợp LCR và NSFR trên 100% thì không phải tuân thủ trần LDR. Ngoài ra một số điểm mới tại TT50 như tỷ lệ đòn bẩy (LEV) không áp ngay ngưỡng 3%, ngưỡng và thời điểm áp dụng do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ; trước đây tiền gửi không kỳ hạn (CASA) được xem chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn thì quy định mới cho phép tính đây là nguồn vốn ổn định với hệ số lên tới 90%...

Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) sẽ được tăng từ 85% lên 95%
ẢNH: ĐỘC LẬP
Công ty CP chứng khoán MB (MBS) phân tích: Tính đến ngày 28.9, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,6 triệu tỉ đồng, tăng 13,2% so với đầu năm và tiếp tục tăng nhanh hơn huy động vốn. Theo đó, LDR của 27 NH tại cuối quý 2/2026 tăng 118 điểm cơ bản so với cuối quý trước và 255 điểm cơ bản so với đầu năm. Mặc dù tỷ lệ này vẫn thấp hơn mức trần 85% nhưng mặt bằng LDR nhìn chung đã cao hơn đáng kể so với các giai đoạn trước, phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh này, NHNN đã triển khai một số biện pháp kỹ thuật nhằm giảm áp lực thanh khoản và hỗ trợ khả năng tài trợ tín dụng của hệ thống, bao gồm nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào mẫu số LDR từ 20% lên 50%, đồng thời nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% nhằm hỗ trợ các khoản vay trung dài hạn và các dự án hạ tầng trọng điểm.
Tuy nhiên, đây chủ yếu là các giải pháp mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn và có thể làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn cũng như áp lực thanh khoản nếu tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì ở mức cao. Do đó, việc NHNN xây dựng một lộ trình quản lý thanh khoản và cơ cấu nguồn vốn rõ ràng hơn là cần thiết để vừa hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, vừa đảm bảo chất lượng bảng cân đối và an toàn hệ thống trong trung dài hạn. TT50 nhằm điều chỉnh các tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản hướng tới tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế Basel III. MBS đánh giá những điều chỉnh của TT50 so với dự thảo trước đó mang tính linh hoạt hơn trong giai đoạn chuyển tiếp nhằm tiếp tục hỗ trợ thanh khoản của các NH, đồng thời vẫn có cơ chế điều hướng về mặt quản lý để sớm tuân thủ theo các quy định của Basel III.
Việc mở rộng khả năng cho vay chỉ giải quyết một phần bài toán của NH; về lâu dài, cần phát triển thị trường vốn để đáp ứng nguồn vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng NH.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí HiếuGiảm áp lực cạnh tranh huy động vốn
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối đầu tư Công ty chứng khoán An Bình, cho rằng trước đây, thanh khoản của hệ thống NH chủ yếu được quản lý thông qua LDR. Do đó, các NH phải cạnh tranh huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn, để đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn. TT50 với những quy định mới đã giải quyết hai bài toán. Thứ nhất, trong ngắn hạn, điều chỉnh LDR để nới thanh khoản cho hệ thống.
Thứ hai, về dài hạn, tăng vai trò của LCR và NSFR, qua đó yêu cầu các NH nâng bộ đệm thanh khoản và tăng lượng tài sản có tính thanh khoản cao. Khi giảm phụ thuộc vào LDR, cạnh tranh huy động vốn giữa các nhà băng sẽ giảm nhưng không có nghĩa cạnh tranh về lãi suất sẽ chấm dứt. Khi chuyển sang LCR và NSFR, các NH sẽ tập trung hơn vào hai yếu tố là bộ đệm vốn và các tài sản nắm giữ. Nếu đáp ứng tốt hai tỷ lệ này, NH sẽ giảm sự phụ thuộc vào LDR và không còn phải quá phụ thuộc vào việc huy động vốn ngắn hạn. Điều này có thể làm giảm áp lực cạnh tranh huy động vốn trong hệ thống.
Tuy nhiên, những NH nhỏ, có bộ đệm vốn thấp hoặc chất lượng tài sản chưa tốt, vẫn có thể phải cạnh tranh huy động mạnh hơn. Những NH có quy mô và bộ đệm vốn tốt sẽ ít chịu ảnh hưởng hơn và giảm được sự phụ thuộc vào LDR. Mục tiêu của việc chuyển sang LCR và NSFR là khuyến khích các NH kiểm soát nguồn vốn ngắn hạn và tăng bộ đệm vốn. Khi giải quyết được hai vấn đề này, NH sẽ bớt phải phụ thuộc vào việc huy động vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, từ đó giảm áp lực cạnh tranh huy động vốn.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng việc tăng LDR giúp các NH có thêm dư địa cho vay, nhất là trong bối cảnh cần nguồn tín dụng dồi dào để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên, việc nâng tỷ lệ này cũng kéo theo rủi ro. Đó là rủi ro thanh khoản và chênh lệch kỳ hạn. Khoảng 80% vốn huy động của hệ thống NH là vốn ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay trung và dài hạn lớn. Khi LDR được nâng, NH có thể sử dụng nhiều hơn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, làm gia tăng rủi ro thanh khoản. Chưa kể tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP hiện đã khoảng 150%, là mức rất cao. Nếu tiếp tục đẩy mạnh tín dụng, tỷ lệ này sẽ tăng thêm và rủi ro hệ thống cũng gia tăng.
Theo ông Hiếu, dù LDR được nới rộng, NH vẫn phải tuân thủ giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Nếu cả hai tỷ lệ cùng được đẩy lên cao, rủi ro sẽ tăng đáng kể, đặc biệt khi việc giám sát không chặt chẽ. Về dài hạn, Việt Nam cần giảm sự phụ thuộc vào vốn NH và phát triển thị trường vốn trung, dài hạn. Khi tín dụng/GDP đã khoảng 150%, NH không thể tiếp tục là bệ đỡ vốn cho toàn bộ nền kinh tế. Một kênh cần được phát triển là quỹ hưu trí tư nhân, bên cạnh nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư gián tiếp thông qua cổ phiếu và trái phiếu. "Việc mở rộng khả năng cho vay chỉ giải quyết một phần bài toán của NH; về lâu dài, cần phát triển thị trường vốn để đáp ứng nguồn vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng NH", ông Nguyễn Trí Hiếu cho hay.
NHNN đang đưa ra các yêu cầu về thanh khoản và nguồn vốn ổn định, hướng tới áp dụng LCR và NSFR từ năm 2028 để quản trị rủi ro. LCR yêu cầu NH có đủ tài sản thanh khoản chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu dòng tiền trong tình huống căng thẳng 30 ngày. NSFR nhằm bảo đảm NH có đủ nguồn vốn ổn định để tài trợ cho các tài sản và hoạt động dài hạn. Đây là tín hiệu cho thấy NHNN hướng tới áp dụng chặt chẽ hơn các tiêu chuẩn an toàn theo Basel III, cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định hệ thống tài chính.
(Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu)