Bỏ qua điều hướng
•

Vòng xoáy đường cùng sinh kế: Bộ Tài chính cần sửa đổi quy định về vé số

Vòng xoáy đường cùng sinh kế: Bộ Tài chính cần sửa đổi quy định về vé số
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Luật sư cho rằng Bộ Tài chính cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan tại Thông tư số 75/2013/TT-BTC, đặc biệt là nội dung về hợp đồng đại lý, điều kiện giao nhận và thu hồi vé tồn.

Người bán vé số dạo là mắt xích cuối cùng đưa vé số đến người tiêu dùng, nhưng cũng là nhóm dễ gặp rủi ro khi vé không bán hết, phát sinh công nợ hoặc xảy ra tranh chấp với đại lý.

Trong khi hoạt động kinh doanh xổ số đã có quy định về hợp đồng đại lý và thu hồi vé tồn, cơ chế bảo vệ người bán lẻ ở những tầng phân phối phía sau vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần được xem xét.

Vòng xoáy đường cùng sinh kế: Bộ Tài chính cần sửa đổi quy định về vé số- Ảnh 1.

Địa vị pháp lý của người bán vé số dạo cần được xác định trên cơ sở bản chất quan hệ thực tế với đại lý

ẢNH: DƯƠNG TRANG

Trao đổi với PV Thanh Niên, luật sư Nguyễn Xuân Thọ, Đoàn luật sư TP.HCM cho rằng người bán vé số dạo không phải là nhóm đối tượng hoàn toàn nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật. Tuy nhiên, việc được pháp luật ghi nhận hoạt động mưu sinh và việc có một cơ chế bảo vệ quyền lợi đầy đủ, hiệu quả trong quá trình mưu sinh là hai vấn đề khác nhau.

Cụ thể, điểm đ khoản 1 điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP đã ghi nhận hoạt động bán vé số thuộc nhóm hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên của cá nhân không phải đăng ký kinh doanh.

Trong quan hệ dân sự, người bán có quyền xác lập các giao dịch hợp pháp, thỏa thuận về việc nhận vé, giá giao, thù lao hoặc khoản chênh lệch được hưởng, phương thức thanh toán và trách nhiệm của các bên.

Tuy nhiên, theo luật sư, địa vị pháp lý của người bán vé số dạo cần được xác định trên cơ sở bản chất quan hệ thực tế với đại lý, chứ không thể chỉ căn cứ vào tên gọi công việc.

Nếu một người nhận vé theo hình thức mua để tự bán lại, họ có thể phải chịu rủi ro kinh doanh theo thỏa thuận hợp pháp. Ngược lại, nếu họ nhận vé để bán hộ, hưởng thù lao và được quyền hoàn trả vé không tiêu thụ hết, trách nhiệm của các bên phải được xem xét theo nội dung giao dịch đó.

Đặc biệt, trong trường hợp người bán làm việc có trả công, chịu sự quản lý, điều hành và giám sát thực chất của một bên, cần đối chiếu khoản 1 điều 13 bộ luật Lao động năm 2019 để xác định có phát sinh quan hệ lao động hay không, kể cả khi các bên không sử dụng tên gọi hợp đồng lao động.

Không thể mặc nhiên xem tất cả người bán vé số dạo là người lao động của công ty xổ số hoặc đại lý, nhưng cũng không thể chỉ vì họ không có hợp đồng lao động mà loại trừ hoàn toàn khả năng được pháp luật lao động bảo vệ nếu quan hệ thực tế đáp ứng điều kiện luật định.

Vòng xoáy đường cùng sinh kế: Bộ Tài chính cần sửa đổi quy định về vé số- Ảnh 2.

Cần rà soát, bổ sung các quy định chuyên ngành về giao nhận, hoàn trả vé xổ số không tiêu thụ hết và cơ chế phân bổ rủi ro

ẢNH: DƯƠNG TRANG

Hoàn thiện cơ chế giao nhận, hoàn trả vé và phân bổ rủi ro

Từ góc độ hoàn thiện pháp luật, luật sư Nguyễn Xuân Thọ cho rằng cần rà soát, bổ sung các quy định chuyên ngành về giao nhận, hoàn trả vé số không tiêu thụ hết và cơ chế phân bổ rủi ro trong toàn bộ hệ thống phân phối.

Theo đó, Bộ Tài chính cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan tại Thông tư số 75/2013/TT-BTC, đặc biệt là nội dung về hợp đồng đại lý, điều kiện giao nhận và thu hồi vé tồn.

Việc hoàn thiện không nên chỉ tập trung vào khâu công ty xổ số nhận lại vé từ đại lý chính thức, mà cần xem xét cả cách thức chính sách được chuyển tiếp và thực hiện đối với người bán lẻ ở các tầng phân phối phía sau.

Luật sư đề xuất nghiên cứu thiết lập cơ chế hoàn trả vé chưa tiêu thụ có điều kiện, xác định rõ thời hạn, địa điểm, thủ tục, tỷ lệ hoặc phạm vi vé được nhận lại và trách nhiệm của từng bên. Chính sách này cần được thông báo trước khi giao vé, bảo đảm người bán biết rõ trường hợp nào được trả, trường hợp nào phải tự chịu rủi ro.

Do việc thu hồi, kiểm đếm và vô hiệu hóa vé phải hoàn thành trước giờ quay số mở thưởng để phòng ngừa gian lận, quyền hoàn trả không thể được thiết kế vô thời hạn hoặc không có điều kiện.

Giải pháp hợp lý là xây dựng các mốc thời gian phù hợp cho từng cấp phân phối, vừa bảo đảm người bán dạo có đủ thời gian trả vé, vừa giúp đại lý kịp tổng hợp và hoàn trả lên cấp trên.

Bên cạnh đó, cần bổ sung nghĩa vụ minh bạch thông tin trong giao dịch giữa đại lý và người bán vé số dạo.

Luật sư cho rằng không nhất thiết phải buộc tất cả người bán dạo ký hợp đồng thương mại phức tạp. Thay vào đó, có thể xây dựng mẫu phiếu giao nhận hoặc thỏa thuận đơn giản, ghi rõ số lượng vé, kỳ xổ số, giá giao, khoản thù lao hoặc chênh lệch được hưởng, thời hạn thanh toán, điều kiện trả vé và trách nhiệm khi phát sinh vé tồn.

Một vấn đề khác là cơ chế điều chỉnh số lượng vé phân phối. Theo phản ánh thực tế, có người bán lo ngại rằng nếu trả lại nhiều vé không bán hết hoặc giảm lượng vé nhận trong những ngày mưa, họ có thể bị giảm nguồn hàng ở những kỳ tiếp theo. Trong khi đó, đối với người bán vé số dạo, chủ động giảm số lượng vé khi sức mua thấp là cách để người bán hạn chế rủi ro.

Về nguyên tắc, đại lý và doanh nghiệp có quyền tổ chức phân phối, điều chỉnh lượng vé trên cơ sở năng lực tiêu thụ và các điều kiện hợp pháp. Tuy nhiên, cần tránh việc điều chỉnh nguồn hàng trở thành biện pháp gây bất lợi thiếu căn cứ đối với người bán đã thực hiện đúng quyền hoàn trả theo thỏa thuận.

Vì vậy, cơ quan quản lý có thể nghiên cứu yêu cầu công khai các nguyên tắc phân phối, điều chỉnh số lượng vé và tiếp nhận phản ánh. Đồng thời, khuyến khích cơ chế đăng ký lượng vé linh hoạt, căn cứ nhu cầu tiêu thụ thực tế, nhất là trong mùa mưa hoặc đối với những người bán có sức khỏe hạn chế.

Vòng xoáy đường cùng sinh kế: Bộ Tài chính cần sửa đổi quy định về vé số- Ảnh 3.

Luật sư Nguyễn Xuân Thọ, Đoàn luật sư TP.HCM

ẢNH: NVCC

Theo luật sư, đây không chỉ là giải pháp bảo vệ người bán dạo mà còn giúp hệ thống phân phối hoạt động hiệu quả hơn, giảm tình trạng nhận vé vượt khả năng tiêu thụ rồi phát sinh công nợ.

"Nếu phải lựa chọn một giải pháp ưu tiên, tôi cho rằng cần bắt đầu từ việc minh bạch hóa và hoàn thiện cơ chế giao nhận, hoàn trả vé không tiêu thụ hết, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các bên trong chuỗi phân phối", luật sư Nguyễn Xuân Thọ nêu quan điểm.

Theo luật sư, bảo vệ người bán vé số dạo không có nghĩa là phủ nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh, cũng không phải yêu cầu doanh nghiệp hoặc đại lý gánh chịu mọi thiệt hại. Điều cần hướng tới là cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý, minh bạch và tương xứng hơn với vị trí, khả năng của từng chủ thể.

Một ngành kinh doanh có quy mô lớn và đóng góp đáng kể cho ngân sách không chỉ được đánh giá qua doanh thu, lợi nhuận hay số tiền nộp ngân sách, mà còn cần quan tâm đến tính bền vững và sự công bằng trong cách thức tổ chức hoạt động phân phối.

Người bán vé số dạo là một mắt xích trong quá trình đưa sản phẩm xổ số đến người mua. Vì vậy, bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của họ không chỉ giúp hạn chế những thiệt hại trong quá trình mưu sinh, mà còn góp phần xây dựng hệ thống kinh doanh xổ số minh bạch, ổn định và có trách nhiệm hơn với xã hội.

Theo báo cáo của Hội đồng Xổ số kiến thiết khu vực miền Nam, trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh số phát hành xổ số truyền thống đạt 87.140 tỉ đồng, tăng 13,66% so với cùng kỳ năm 2025, hoàn thành 48,56% kế hoạch năm.

Doanh thu tiêu thụ thực tế đạt 86.147 tỉ đồng, tăng 13,54%, hoàn thành 50,02% kế hoạch năm. Tỷ lệ tiêu thụ bình quân đạt 98,86%, giảm 0,11% so với cùng kỳ; chi phí trả thưởng là 42.126 tỉ đồng.

Là mắt xích cuối cùng đưa vé số đến tay người tiêu dùng, người bán vé số dạo hiện đang phải đối mặt với nhiều rủi ro sinh kế khi vé tồn đọng hoặc phát sinh công nợ với các đại lý. Dù điểm đ khoản 1 điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP công nhận đây là hoạt động thương mại độc lập không cần đăng ký kinh doanh, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi nhóm đối tượng này trong chuỗi phân phối vẫn còn nhiều khoảng trống. Theo luật sư Nguyễn Xuân Thọ thuộc Đoàn luật sư TP.HCM, địa vị pháp lý của người bán vé số dạo cần được định danh dựa trên bản chất quan hệ giao dịch thực tế chứ không thuần túy dựa vào danh xưng công việc. Trường hợp người bán chịu sự quản lý, giám sát và hưởng tiền công thực tế từ phía đại lý, giao dịch này cần được đối chiếu theo khoản 1 điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 để bảo đảm các quyền lợi lao động hợp pháp. Nhằm giải quyết căn cơ bài toán phân bổ rủi ro kinh doanh, Bộ Tài chính cần nghiên cứu sửa đổi và bổ sung các quy định tại Thông tư 75/2013/TT-BTC. Trọng tâm của quá trình rà soát này nên tập trung vào hợp đồng đại lý, quy trình giao nhận và cơ chế thu hồi vé tồn ở toàn bộ các tầng nấc phân phối. Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ sẽ bảo đảm sự minh bạch thị trường và hạn chế thế yếu của những người trực tiếp mưu sinh trên đường phố.
amung