Hoạt động cảng biển, vận tải và logistics tạo động lực cho sản xuất, xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng cùng với đó là áp lực về tiêu thụ nhiên liệu, phát thải khí nhà kính, bụi, tiếng ồn và chất thải phát sinh trong quá trình vận hành, khai thác.
Bài toán đặt ra không phải là hạn chế động lực phát triển của thành phố cảng, mà là tổ chức hoạt động kinh tế theo hướng hiệu quả hơn, giảm tác động đến môi trường và sử dụng tài nguyên tiết kiệm hơn.
Theo số liệu được công bố tháng 8/2026, Công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam phát thải 28.570,54 tấn CO₂ tương đương, tiêu thụ 8.841,57 tấn dầu quy đổi (TOE); Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng phát thải 14.293,47 tấn CO₂ tương đương, tiêu thụ 1.878,54 TOE năng lượng. Dù không đại diện cho toàn bộ hoạt động cảng biển và vận tải biển trên địa bàn, nhưng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải kiểm soát phát thải từ các khâu vận hành.
Trong lĩnh vực cảng biển, chuyển đổi xanh bắt đầu từ những giải pháp thiết thực: Sử dụng năng lượng tiết kiệm, cải tiến thiết bị bốc xếp, từng bước thay thế phương tiện chạy diesel bằng phương tiện sử dụng điện hoặc nhiên liệu thân thiện hơn với môi trường; ứng dụng công nghệ số để điều phối tàu, quản lý container và tối ưu hóa hoạt động kho bãi. Khi thời gian chờ đợi được rút ngắn, hành trình vận chuyển được tổ chức hợp lý và thiết bị vận hành hiệu quả hơn, lượng nhiên liệu tiêu thụ cũng có thể giảm theo.
Theo ông Phạm Hồng Minh, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, đối với doanh nghiệp khai thác cảng biển, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn gắn với nâng cao hiệu quả khai thác và năng lực cạnh tranh. Việc tiết kiệm năng lượng, đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ trong quản lý và từng bước giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch sẽ góp phần giảm phát thải, tối ưu chi phí vận hành. Mục tiêu xây dựng cảng xanh vì thế cần được triển khai đồng bộ từ đầu tư hạ tầng, tổ chức khai thác đến quản lý môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Với vận tải biển, bài toán còn rộng hơn phạm vi cầu cảng. Phát thải từ đội tàu, hành trình vận chuyển, hoạt động neo đậu và phương tiện vận tải hàng hóa kết nối cảng đều cần được tính đến. Việc nghiên cứu nhiên liệu ít carbon, tối ưu hóa lịch trình tàu và tăng cường kết nối giữa vận tải biển với đường thủy nội địa, đường sắt sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ thống giao thông đường bộ.
Mặt khác, khi các thị trường quốc tế ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon của hàng hóa và chuỗi cung ứng, logistics xanh còn giúp doanh nghiệp Hải Phòng nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của đối tác, duy trì lợi thế cạnh tranh và thu hút những dòng vốn đầu tư có chất lượng. Bảo vệ môi trường vì thế không chỉ là chi phí phải bỏ ra, mà còn là khoản đầu tư cho năng lực phát triển lâu dài.
Ông Lê Ngọc Châu, Bí thư Thành ủy Hải Phòng nhấn mạnh, chuyển đổi xanh đã được đặt trong chiến lược phát triển dài hạn của thành phố. Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 29/1/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng về chuyển đổi xanh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định giao thông vận tải, công nghiệp và đảo Cát Bà là những trọng tâm; lấy phát triển cảng xanh làm đột phá chiến lược. Thành phố đặt mục tiêu giảm ít nhất 43,5% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 so với năm 2020, đồng thời phấn đấu đạt và duy trì phát thải ròng bằng “0” vào năm 2045.
Nam Bình