Bỏ qua điều hướng
•

10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ

10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) ngày 3/11 đã công bố báo cáo kinh tế-xã hội định kỳ tháng 10 và 10 tháng 2026. Theo đó, bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)  tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,47% do chịu tác độ...

Riêng trong tháng 10, CPI tăng 0,20% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới; tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm 2025.

Số liệu thống kê CPI tháng 10 cho thấy, trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 7 nhóm có chỉ số giá tăng và 4 nhóm có chỉ số giá giảm.

Cụ thể, 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas, dịch vụ sửa chữa nhà ở và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể, dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức, dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng; nhóm giáo dục tăng 0,31%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng; nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%.

cpi10.png
Tốc độ tăng CPI tháng 10/2026 so với tháng 9/2026. (Nguồn: Cục Thống kê)

Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng 9/2026 là: nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,87%.

CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó có các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; nhóm giao thông…

Cũng theo Cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 10/2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm 2025, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

cpi10-26info.jpg
Nguồn: Cục Thống kê.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng 10 (tính đến 28/10/2026) ở mức 4.137,85 USD/ounce, giảm 6,69% so với tháng trước, chủ yếu do đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao, thị trường gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát cùng với áp lực bán chốt lời của các nhà đầu tư.

Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 10 giảm 2,85% so với tháng trước; giảm 2,94% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,77% so với tháng 12/2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường quốc tế tháng 10 (tính đến 28/10/2026) tăng 2,39 điểm so với tháng 9, trong bối cảnh kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao.

Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10 giảm 0,26% so với tháng trước; giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 1,32% so với tháng 12/2025, chủ yếu do nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào và chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,78% so với cùng kỳ năm 2025.

HÀ ANH

Theo số liệu từ Cục Thống kê công bố ngày 3/11, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản ghi nhận mức tăng 4,24%. Riêng trong tháng 10, chỉ số giá tiêu dùng tăng nhẹ 0,20% so với tháng 9, chủ yếu chịu sự tác động trực tiếp từ đợt điều chỉnh giá nhiên liệu trong nước theo xu hướng thế giới. Cơ cấu rổ hàng hóa tháng 10 ghi nhận 7 nhóm tăng giá và 4 nhóm giảm giá trong tổng số 11 nhóm hàng tiêu dùng chính. Trong đó, nhóm giao thông ghi nhận mức tăng mạnh nhất ở mức 2,66% do giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Nhóm giáo dục cùng nhóm thuốc và dịch vụ y tế đều tăng 0,31%, trong khi chiều ngược lại ghi nhận đà giảm đáng chú ý nhất ở nhóm văn hóa, giải trí và du lịch với mức hạ 0,87%. Khoảng cách chênh lệch giữa mức tăng chỉ số giá tiêu dùng chung và lạm phát cơ bản phản ánh rõ tác động từ biến động của nhóm xăng dầu, gas, dịch vụ y tế và thực phẩm tươi sống. Bên cạnh đó, thị trường ghi nhận chỉ số giá vàng tháng 10 giảm 2,85% do áp lực bán chốt lời quốc tế cùng việc đồng USD mạnh lên, dù mức bình quân 10 tháng vẫn duy trì đà tăng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.
amung