Riêng trong tháng 10, CPI tăng 0,20% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới; tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm 2025.
Số liệu thống kê CPI tháng 10 cho thấy, trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 7 nhóm có chỉ số giá tăng và 4 nhóm có chỉ số giá giảm.
Cụ thể, 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%, chủ yếu do giá gas, dịch vụ sửa chữa nhà ở và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%, chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, chủ yếu do giá hàng chăm sóc cơ thể, dịch vụ sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức, dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng; nhóm giáo dục tăng 0,31%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 0,34% khi một số địa phương điều chỉnh giá và giá một số loại thuốc tăng; nhóm giao thông tăng 2,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%.
Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng 9/2026 là: nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,87%.
CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó có các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; nhóm giao thông…
Cũng theo Cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 10/2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm 2025, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng 10 (tính đến 28/10/2026) ở mức 4.137,85 USD/ounce, giảm 6,69% so với tháng trước, chủ yếu do đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao, thị trường gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát cùng với áp lực bán chốt lời của các nhà đầu tư.
Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 10 giảm 2,85% so với tháng trước; giảm 2,94% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,77% so với tháng 12/2025. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường quốc tế tháng 10 (tính đến 28/10/2026) tăng 2,39 điểm so với tháng 9, trong bối cảnh kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao.
Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10 giảm 0,26% so với tháng trước; giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 1,32% so với tháng 12/2025, chủ yếu do nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào và chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bình quân 10 tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,78% so với cùng kỳ năm 2025.
HÀ ANH