Để có những vườn cà phê Khe Sanh bạt ngàn như ngày nay, biết bao con người đã "đổ mồ hôi sôi nước mắt" trên mảnh đất từng trải qua chiến tranh khốc liệt. Mỗi người bằng cách riêng của mình đã gieo mầm, che chắn, bảo vệ và gìn giữ cây cà phê trước bao khó khăn!
NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH
Năm 2026 đánh dấu tròn 100 năm cây cà phê có mặt ở Khe Sanh. Hành trình ấy bắt đầu từ năm 1926, khi nhà thực vật học người Pháp Eugène Poilane đưa những giống

Vùng trồng cà phê ở Khe Sanh xen giữa xóm làng, núi đồi và những cột điện gió
ẢNH: NGUYỄN PHÚC
cà phê đầu tiên đến vùng đất này. Theo tư liệu, Poilane từng đi qua Khe Sanh năm 1918 và nhận thấy vùng đất đỏ nơi đây rất phù hợp với cây cà phê. Tám năm sau, ông trở lại, đưa cà phê vào trồng và hình thành những đồn điền đầu tiên.
Những giống cà phê được trồng khi ấy gồm arabica-typica, bou bou và cà phê mít (Coffea excelsa). Typica và bou bou sinh trưởng khá tốt, cho chất lượng quả cao nhưng nhanh chóng đối mặt với bệnh gỉ sắt còn cà phê mít được duy trì tại một số đồn điền. Trong điều kiện canh tác còn đơn giản, năng suất cà phê thấp; quả chủ yếu được phơi khô rồi bảo quản. Từ những vườn cây đầu tiên ấy, một vùng cà phê dần hình thành. Trong đó, đồn điền Mụ Rôm là một trong những địa danh gắn với buổi đầu của cây cà phê Khe Sanh…
Theo nhà báo Nguyễn Hoàn, nguyên Phó giám đốc Sở TT-TT Quảng Trị (cũ), người dành nhiều thời gian nghiên cứu về Khe Sanh và cà phê Khe Sanh, Poilane không chỉ quan tâm đến cây trồng mà còn đặc biệt yêu mến vùng đất này. Theo ông Hoàn, Poilane để lại hàng chục nghìn tiêu bản thực vật cùng nhiều sổ tay, bản thảo, thư từ. Thời gian và chiến tranh đã xóa đi phần lớn dấu tích về nhà cửa, sân kho cà phê của ông tại Khe Sanh. Những địa điểm còn được nhắc lại chủ yếu dựa vào ký ức của người cao tuổi.

Lô cà phê arabica đầu tiên của Công ty Tân Lâm xuất khẩu sang Đức tại cảng Hamburg vào năm 1998 (trong ảnh: Ông Trần Đoàn, khi đó là Phó giám đốc Công ty Tân Lâm, bắt tay với đại diện Tập đoàn Kraff Food)
ẢNH: ÔNG NGUYỄN VĂN THIẾT CUNG CẤP
Cũng theo ông Hoàn, ngôi mộ của Poilane vẫn còn đó, nằm giản dị trong một khu đất gần hồ Khe Sanh. Gần đây, cháu nội của ông trở lại Khe Sanh để tôn tạo lại ngôi mộ. Trên mộ có gắn chân dung Poilane và dòng chữ: "An nghỉ trên mảnh đất mà ông đã hết lòng yêu mến".
NÔNG TRƯỜNG MỌC LÊN TỪ NHỮNG BÃI MÌN
Dấu mốc quan trọng trong quá trình phục hồi, phát triển cà phê Khe Sanh gắn với Nông trường Tân Lâm, đơn vị quốc doanh đầu tiên được thành lập tại Quảng Trị ngày 20.8.1974. Năm 1978, Nông trường Cà phê Khe Sanh được thành lập và giống arabica caturra được đưa vào trồng thử nghiệm trên diện tích 17,2 ha.
Caturra không duy trì được lâu do bệnh gỉ sắt và năng suất không ổn định nên từ năm 1990, nhiều giống khác được khảo nghiệm. Trong đó, cà phê chè catimor cho thấy khả năng thích nghi tốt, chống chịu bệnh gỉ sắt, năng suất tương đối ổn định và chất lượng khá. Năm 1992, diện tích trồng mới catimor tiếp tục được mở rộng. Từ năm 1995, giống cà phê này được đầu tư phát triển mạnh, có thời điểm diện tích cà phê Khe Sanh lên gần 5.000 ha.

Cây cà phê đã mang lại cơm no áo ấm cho gia đình ông Dương Hữu Thanh
ẢNH: BÁ CƯỜNG
Đằng sau những con số ấy là một hành trình không dễ dàng. Theo ông Nguyễn Văn Thiết (nguyên Trưởng phòng Kế hoạch, Công ty cổ phần nông sản Tân Lâm; hiện sinh sống tại Đắk Lắk), những ngày đầu, hơn 40 cán bộ, công nhân cùng xây dựng nông trường trên địa bàn rộng hơn 20.000 ha. Dưới lòng đất ngày ấy vẫn còn dày bom mìn sau chiến tranh.
Đến những năm 1990, Nông trường Tân Lâm chuyển đổi thành Công ty CP nông sản Tân Lâm. Đây cũng là giai đoạn giống cà phê chè catimor được đưa vào Quảng Trị với sự hỗ trợ của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây nguyên (WASI).
Trong trí nhớ của ông Thiết, khi ấy dòng Catimor F5 có khả năng thích nghi và chống chịu bệnh gỉ sắt, tạo tiền đề cho quá trình phục hồi, phát triển cà phê arabica ở Khe Sanh với sự hỗ trợ kỹ thuật từ dự án GTZ của Đức. Thông qua dự án, đơn vị kết nối với các tập đoàn rang xay, nhà thương mại ở châu Âu và năm 1998, những container cà phê chè VN đầu tiên được đưa ra thị trường thế giới.
Nhìn lại chặng đường ấy, ông Thiết cho rằng câu chuyện cà phê Quảng Trị không chỉ là sản xuất, kinh doanh. Đó còn là câu chuyện về sức sống của một vùng đất sau chiến tranh và những năm tháng khó khăn của thời bao cấp. "Nó nhắc nhở chúng ta về những khó khăn mà người dân phải trải qua cũng như sự phát triển mạnh mẽ của họ trong giai đoạn nhiều thách thức. Cà phê trở thành một biểu tượng của hòa bình và phát triển, kết nối lịch sử trong quá khứ và hiện tại", ông Thiết đúc kết.
Còn với người dân Khe Sanh, việc tham gia trồng cà phê từ những ngày đầu gian khó ấy đã mang lại thành quả hiện diện rõ trong đời sống. Ông Dương Hữu Thanh (67 tuổi, ở thôn 1 Khe Sanh), gắn bó với cây cà phê từ năm 1986, kể trước khi đến với cà phê, ông và người dân ở đây thường phải đi rà phế liệu, lấy nhôm, đồng, sắt, hoặc làm thuê để kiếm sống. Giờ đây, với 1,5 ha cà phê, ông Thanh và gia đình có cuộc sống ổn định, đủ đầy. "Từ những năm 1995 người dân bắt đầu trồng cà phê nhiều. Có thu nhập, họ làm nhà, lo cho con ăn học. Tôi cũng như họ", ông kể.
Sau 1 thế kỷ, từ những đồn điền đầu tiên đến nông trường rồi vùng sản xuất của người dân, cây cà phê đã nhiều lần thay đổi giống, cách trồng và phương thức sản xuất. Hôm nay, những bãi đất từng đầy bom mìn đã trở thành những vùng cà phê xanh ngắt. Những hạt giống được gieo từ 100 năm trước đã để lại một cái tên ngày càng được biết đến: cà phê Khe Sanh. (còn tiếp)
Vùng cà phê hơn 4.000 ha
Khe Sanh là vùng đất đỏ bazan, độ cao khoảng 450 - 680 m so với mặt nước biển, nhiệt độ trung bình 20 - 23 độ C cùng sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm, độ ẩm cao, sương mù, chế độ mưa đặc thù của khu vực phía tây Trường Sơn tạo nên môi trường thuận lợi cho cây cà phê sinh trưởng. Hiện vùng cà phê Khe Sanh có hơn 4.000 ha, trong đó hơn 3.700 ha đang cho sản phẩm, tập trung tại các xã Hướng Phùng, Tân Lập, A Dơi và Khe Sanh. Sản lượng đạt gần 5.000 tấn cà phê nhân/năm.