Cơ thể có nhiều cơ chế tự sửa chữa khi tế bào hoặc mô bị tổn thương, nhưng khả năng này không giống nhau ở mọi cơ quan. Một số mô có thể tạo tế bào mới để thay thế phần đã mất, trong khi những mô khác chủ yếu hình thành mô sẹo hoặc thay đổi cấu trúc để duy trì chức năng.
Khả năng này không giống nhau ở mọi cơ quan và thay đổi theo độ tuổi; một số mô ở trẻ nhỏ có khả năng phục hồi tốt hơn so với người trưởng thành. Gan có mạng lưới tế bào và cơ chế tăng sinh mạnh khi cần phục hồi. Ngược lại, một số cơ quan khác có khả năng tăng sinh hạn chế hơn, khiến quá trình tái tạo mô sau tổn thương khó khăn.
Tim khó thay thế các tế bào cơ tim đã mất
Một số nghiên cứu cho thấy tim người trưởng thành vẫn có mức độ thay mới tế bào cơ tim song khả năng này không đủ để thay thế lượng lớn cơ tim mất đi sau tổn thương nghiêm trọng. Sau nhồi máu cơ tim, lượng lớn tế bào cơ tim có thể chết và phần tổn thương thường được thay thế bằng mô sẹo xơ thay vì cơ tim mới.
Mô sẹo giúp duy trì cấu trúc thành tim, hạn chế nguy cơ thành tim bị yếu hoặc vỡ, nhưng không có khả năng co bóp và dẫn truyền điện như cơ tim bình thường. Vì vậy, vùng tổn thương lớn có thể để lại ảnh hưởng lâu dài đến chức năng tim.
Tim là cơ quan hạn chế khả năng tự phục hồi khi đã xảy ra tổn thương. Ảnh minh họa: AI
Não hạn chế khả năng tạo mới tế bào thần kinh
Hệ thần kinh trung ương gồm não và tủy sống, có khả năng tái tạo hạn chế hơn nhiều so với một số mô khác. Ở não người trưởng thành, một số khu vực vẫn có khả năng tạo tế bào thần kinh mới ở mức nhất định, nhưng khả năng này không đủ để tái tạo hoàn chỉnh những vùng não lớn bị tổn thương.
Sau đột quỵ hoặc chấn thương não, sự phục hồi chức năng có thể đến một phần từ khả năng tái tổ chức các kết nối thần kinh còn lại, thay vì đơn thuần tạo lại toàn bộ tế bào đã mất.
Tủy sống khó phục hồi đường dẫn truyền
Tủy sống cũng thuộc nhóm mô có khả năng tái tạo hạn chế. Khi các sợi trục thần kinh bị tổn thương nghiêm trọng, chúng khó khôi phục chính xác những kết nối với não và các bộ phận khác của cơ thể.
Tế bào thần kinh trưởng thành khó tự tái tạo, trong khi môi trường tại vùng tổn thương cũng không thuận lợi cho quá trình phục hồi. Nhiều phân tử và tế bào xuất hiện sau chấn thương có thể tạo thành môi trường không thuận lợi cho sự phát triển trở lại của sợi trục.
Do đó, phục hồi sau chấn thương tủy sống thường phụ thuộc vào mức độ tổn thương, vị trí tổn thương, điều trị và phục hồi chức năng. Những cải thiện về chức năng không đồng nghĩa tủy sống đã tái tạo hoàn toàn.
Bảo Bảo (Tổng hợp)