Trứng Ba Huân dần vắng bóng tại các kệ hàng
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa thông báo bán khoản nợ của Công ty CP Ba Huân và Công ty TNHH Công nghệ cao Ba Huân Thạnh Hóa với tổng dư nợ đến cuối tháng 9 vượt 624,8 tỷ đồng.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay này phần lớn là những tài sản gắn trực tiếp với chuỗi sản xuất trứng của Ba Huân, từ chuồng trại, nhà máy đến dây chuyền xử lý và hàng tồn kho…
Trước đó, từ giữa tháng 5, Nhà máy Xử lý và chế biến trứng gia cầm Ba Huân tại xã Tân Nhựt, TPHCM đã thông báo tạm ngưng hoạt động do thiếu nguyên liệu và chi phí vận hành tăng cao.
Trên thị trường bán lẻ, sự thu hẹp này cũng ngày càng rõ hơn khi các sản phẩm Ba Huân khó tìm thấy tại nhiều siêu thị, cửa hàng tạp hóa. Các kênh mạng xã hội và website của doanh nghiệp cũng không còn cập nhật thông tin mới từ cuối năm ngoái đến nay.

Khách hàng chọn mua trứng tại siêu thị (Ảnh: Nam Bình).
Chị Nguyễn Thu Ba - chủ một quán bánh mì trên đường Ngô Chí Quốc (phường Tam Bình, TPHCM), cho biết trước đây quán thường xuyên sử dụng trứng gà Ba Huân cho món bánh mì ốp la.
Tuy nhiên, khoảng hơn một năm trở lại đây, việc tìm mua trứng Ba Huân ngày càng khó. Nhiều lần đến đại lý nhưng không có hàng, trong khi thương hiệu này cũng xuất hiện thưa dần trên các kệ trứng trong siêu thị.
“Khó tìm mua trứng Ba Huân nên tôi phải đổi sang thương hiệu khác, dù nhiều khách quen cho rằng họ an tâm khi ăn món trứng ốp la của Ba Huân”, chị Ba nói.
Khó khăn tài chính của Ba Huân cũng từng được thể hiện qua nhiều thông tin trước đó. Cuối năm 2025, doanh nghiệp được nhắc đến với khoản nợ thuế hơn 51 tỷ đồng và bị cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan. Một số đối tác cũng cho biết gặp khó trong việc thu hồi công nợ.
Ông Phạm Văn Hải - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Suất ăn công nghiệp Vinh Phát, cho biết, doanh nghiệp này cùng Công ty TNHH Dịch vụ - Sản xuất Suất ăn công nghiệp An Phát đang có khoản công nợ gần 1,5 tỷ đồng liên quan đến việc cung cấp suất ăn cho công nhân tại các nhà máy của Ba Huân.
Theo ông Hải, sau khi Ba Huân dừng hoạt động, việc liên hệ để xử lý công nợ trở nên khó khăn. Doanh nghiệp nhiều lần tìm cách liên hệ nhưng chưa nhận được kế hoạch thanh toán cụ thể, trong khi kế toán trưởng của Ba Huân cũng đã nghỉ việc.
“Không còn cách nào khác, chúng tôi đang tư vấn luật sư để khởi kiện ra tòa”, ông Hải chia sẻ với Dân trí.

Doanh thu các công ty sản xuất trứng lớn đều tăng trưởng cao giai đoạn 2020-2024 (Đồ họa: FPTS).
Từ một thương hiệu từng có độ nhận diện cao trên thị trường trứng, Ba Huân hiện đối mặt với bài toán duy trì hoạt động, xử lý công nợ và giữ chuỗi sản xuất.
Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng, sự đi xuống của Ba Huân không đồng nghĩa thị trường trứng Việt Nam đang suy giảm. Ngược lại, đây là ngành đang có sự gia tăng về sản lượng, quy mô trang trại và đầu tư công nghệ, với sự hiện diện ngày càng rõ của các doanh nghiệp lớn.
Những “ông lớn” nào đang nắm lợi thế?
TS Nguyễn Đức Trọng - nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - thông tin sản lượng trứng gia cầm của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 21,4 tỷ quả và năm 2026 dự kiến vượt 22 tỷ quả.
Với quy mô này, ngành trứng gia cầm đang có xu hướng dư cung, hướng tới xuất khẩu. Tuy vậy, thị trường nội địa không phải là sân chơi của một vài doanh nghiệp lớn.
Phía sau những thương hiệu được nhìn thấy trên kệ siêu thị như Hòa Phát, Dabaco hay Vĩnh Thành Đạt… là một mạng lưới rất lớn các hộ chăn nuôi, trang trại và thương lái.

Công suất sản xuất trứng gà của các doanh nghiệp trứng lớn trên thị trường (Đồ họa: FPTS).
Ông Trương Chí Thiện - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt (V-Food) - nhận định trứng tươi là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh rất cao. Ngoài doanh nghiệp lớn còn có hệ thống phân phối truyền thống, các điểm bán nhỏ lẻ và thương lái địa phương với chi phí vận hành thấp.
Đặc biệt, khác với nhiều ngành thực phẩm đang chịu sức ép cạnh tranh lớn từ doanh nghiệp FDI, thị trường trứng Việt Nam hiện vẫn chủ yếu là sân chơi của doanh nghiệp nội địa.
Một nguyên nhân là nguồn cung từ mạng lưới hộ chăn nuôi và doanh nghiệp trong nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh trứng gà còn có trứng vịt, trứng cút và nhiều dòng sản phẩm khác, trong khi các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào trứng gà.
Dù vậy, ở nhóm doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, cuộc cạnh tranh đang ngày càng rõ nét.
Theo báo cáo định giá trước niêm yết của FPTS công bố đầu năm 2026, Nông nghiệp Hòa Phát ước chiếm khoảng 6% thị phần sản xuất trứng gà tại miền Bắc.
Doanh nghiệp này hiện có trang trại gà giống với quy mô 15.000 con gà giống/năm, đáp ứng công suất khoảng 1,5 triệu gà đẻ/năm, cùng trang trại gà đẻ trứng thương phẩm quy mô khoảng 1,2 triệu gà mái đẻ/năm, công suất khoảng 336 triệu trứng/năm.
Đáng chú ý, công suất vận hành mảng trứng của Hòa Phát đã tăng từ 36% năm 2019 lên 100% từ năm 2024. Sản lượng trứng tăng trưởng bình quân 22,4%/năm trong giai đoạn 2019-2024, cao hơn đáng kể so với mức tăng 4,9%/năm của thị trường miền Bắc.
Cùng với Hòa Phát, Dabaco cũng đang sở hữu quy mô đáng kể trong mảng trứng. Theo báo cáo thường niên năm 2025, tập đoàn này duy trì đàn gà đẻ khoảng 1 triệu con và cung cấp khoảng 300 triệu quả trứng gà thương phẩm mỗi năm.
Ở phía Nam, ông Trương Chí Thiện cho biết, bình quân mỗi ngày doanh nghiệp này bán ra khoảng 800.000-1 triệu quả trứng các loại. Tính theo quy mô này, sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp tương đương khoảng 292-365 triệu quả/năm nếu duy trì đều đặn.
Trứng gia cầm vào giai đoạn bão hòa, giá bán liên tục giảm sâu
Sản lượng trứng gia cầm tăng nhanh trong khi sức tiêu thụ không tăng tương ứng đang đẩy thị trường vào giai đoạn bão hòa, kéo giá bán giảm sâu.
Số liệu của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) cho thấy, sản lượng trứng đã tăng khoảng 5-6% mỗi năm trong 5 năm gần đây. Trong khi đó, mức tiêu thụ bình quân của người Việt hiện khoảng 185-190 quả/người/năm.

Ngoài các thương hiệu lớn, hệ thống phân phối trứng gia cầm còn có mạng lưới các đại lý, cửa hàng nhỏ lẻ... (Ảnh: Nam Bình).
Nhu cầu tiêu thụ trứng năm 2026 được dự báo khoảng 563.000 tấn, tăng bình quân khoảng 1,6%/năm. Với công suất của các dự án đã và đang vận hành, sản lượng trứng trong vài năm tới có thể lên tới 25-26 tỷ quả.
Trong khi sản lượng tăng, sức mua không tăng tương ứng, thị trường đã xuất hiện những đợt giá giảm mạnh.
Cuối năm 2025, giá trứng gà tại trại có thời điểm đạt 2.500-3.000 đồng/quả nhưng đến giữa năm 2026, giá tại một số khu vực chỉ còn khoảng 1.200-1.500 đồng/quả. Có thời điểm trứng giá rẻ được bán tràn lan trên vỉa hè, khiến nhiều trang trại và doanh nghiệp chịu thua lỗ.
Ông Trương Chí Thiện nhận định, năm 2026 có thể xem là giai đoạn thị trường trứng gia cầm bắt đầu bão hòa về số lượng. Do đó, cuộc đua trong ngành đang chuyển từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, kiểm soát chi phí và xây dựng sản phẩm có giá trị cao hơn.
TS Nguyễn Đức Trọng cũng cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của ngành hiện không nằm ở giống, dinh dưỡng hay kỹ thuật chăn nuôi. Việt Nam cơ bản có đủ các giống gà năng suất cao, đồng thời doanh nghiệp và người chăn nuôi đã áp dụng nhiều công nghệ như chuồng kín, chuồng lồng, chuồng tầng.
Khó khăn lớn hơn nằm ở thông tin thị trường và khả năng liên kết chuỗi. Số liệu về tổng đàn, sản lượng trứng và nhu cầu tiêu dùng chưa được cập nhật đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Trong khi đó, các mắt xích từ sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu dùng vẫn chưa được kết nối chặt chẽ. Điều này khiến người chăn nuôi dễ rơi vào cảnh tăng đàn khi giá tốt, nhưng đến lúc nguồn cung tăng mạnh thì giá lại giảm sâu.
Cũng theo vị chuyên gia, dù có xu hướng dư cung trong nước, xuất khẩu trứng của Việt Nam hiện vẫn khó vì phải cạnh tranh về giá và các yêu cầu về an toàn dịch bệnh. Đây là những yếu tố mà Việt Nam chưa có lợi thế so với các nước khác trong khu vực.
Vì vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường nội địa vẫn là mục tiêu quan trọng của ngành trứng gia cầm. Với quy mô khoảng 100 triệu dân và lượng khách du lịch lớn, thị trường trong nước đã là một thị trường rất lớn của doanh nghiệp.
“Nếu doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất hiệu quả, kiểm soát tốt chi phí cũng như bảo đảm an toàn sinh học và tăng cường liên kết trong chuỗi, việc cạnh tranh tốt ngay tại thị trường nội địa cũng đã là nền tảng quan trọng để ngành phát triển bền vững hơn”, ông Trọng nhận định.