“Trên quê hương Quan họ, một làn nắng cũng mang điệu dân ca…”, từ nhỏ tôi đã nghe những ca từ ấy trong bài hát Những cô gái Quan họ của nhạc sĩ Phó Đức Phương.
Trong tháng 8, Quốc hội đã chính thức thông qua thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh. Ở phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin đề cập thành phố Bắc Ninh - quê hương tôi.
Như vậy, vùng đất của những liền anh, liền chị đã bước sang một chương mới. Và tất nhiên, đây mới chỉ là điểm khởi đầu; điều đáng chú ý hơn nằm ở mô hình phát triển mà Bắc Ninh được định hướng.
Kết luận 52-KL/TW của Bộ Chính trị xác định tập trung phát triển thành phố Bắc Ninh là hình mẫu về thành phố xanh, thông minh, hiện đại, văn minh, giàu đẹp, mang đậm bản sắc văn hóa Kinh Bắc; phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu; phát triển công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu; hình thành trung tâm công nghiệp điện tử, với trọng tâm là công nghiệp bán dẫn, sản xuất vi mạch, trí tuệ nhân tạo hàng đầu cả nước và trong khu vực…

Một khu vực tại tỉnh Bắc Ninh (Ảnh minh họa: Trần Kháng).
Nhìn lại trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Bắc Ninh đã đạt khoảng 106,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu khoảng 52,5 tỷ USD. Phía sau những con số đó là một hệ sinh thái sản xuất điện tử và công nghệ cao đã hình thành qua nhiều năm. Tuy nhiên, từ một trung tâm sản xuất lớn đến một trung tâm công nghiệp điện tử có sức cạnh tranh quốc tế vẫn còn một khoảng cách: không chỉ sản xuất nhiều hơn, mà phải đổi mới sáng tạo hơn, doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra nhiều giá trị gia tăng và phát triển bền vững hơn.
Trong một không gian phát triển gắn với công nghiệp bán dẫn, sản xuất vi mạch, trí tuệ nhân tạo… và Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, có lẽ câu chuyện đáng quan tâm không chỉ là Bắc Ninh sẽ lớn đến đâu, mà là thành phố của chúng ta sẽ bước ra thế giới bằng những giá trị như thế nào.
Muốn đi sâu hơn vào chuỗi giá trị, Bắc Ninh cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ kỹ thuật, tài chính, logistics (dịch vụ hậu cần), dữ liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng kết nối với thế giới.
Một con chip có thể nhỏ hơn đầu ngón tay rất nhiều, nhưng giá trị của nó lớn hơn những kiện hàng hóa thông thường. Với những sản phẩm như vậy, khoảng cách tới thị trường trong bối cảnh thế giới chuyển động nhanh và cạnh tranh gay gắt hiện nay không chỉ được tính bằng km mà được tính bằng giờ, thậm chí bằng phút. Hàng không vì thế không cạnh tranh với đường biển hay đường bộ về khối lượng và giá thành, mà tạo lợi thế ở tốc độ, độ tin cậy và khả năng phục vụ những hàng hóa giá trị cao, nhạy cảm về thời gian. Điện tử, bán dẫn, linh kiện chính xác, dược phẩm, hàng lạnh hay chuyển phát nhanh đều cho thấy rõ logic đó.
Theo chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 256/2025/QH15 và được Chính phủ cụ thể hóa tại Nghị quyết số 71/NQ-CP, sân bay này được định hướng là cảng hàng không quốc tế cấp 4F theo tiêu chuẩn ICAO, hướng tới thông minh, xanh, bền vững, thế hệ mới; là cửa ngõ hàng không của miền Bắc, trung chuyển hành khách, hàng hóa và cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa, đại tu tàu bay của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Quy mô được xác định khoảng 30 triệu hành khách và 1,6 triệu tấn hàng hóa mỗi năm vào năm 2030, tiến tới khoảng 50 triệu hành khách và 2,5 triệu tấn hàng hóa vào năm 2050. Điều khiến tôi quan tâm không chỉ là những con số công suất, mà là việc cargo và MRO đã được đặt ngay trong mục tiêu chính thức của dự án, cho thấy sân bay đã được nhìn nhận rộng hơn một nhà ga hành khách thông thường.
Cargo là vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không. Một sân bay có “mục tiêu cargo” nghĩa là được quy hoạch với nhà ga hàng hóa riêng, kho lạnh, khu logistics, bãi đỗ cho máy bay chở hàng chuyên dụng, và kết nối với hải quan, đường bộ, khu công nghiệp xung quanh. Cargo mang lại doanh thu ổn định hơn hành khách (ít phụ thuộc mùa vụ, du lịch) và gắn sân bay với chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu, đặc biệt là hàng điện tử, linh kiện, nông sản giá trị cao.
Còn MRO là viết tắt của Maintenance, Repair and Overhaul, tức bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu máy bay. Đây là ngành công nghiệp kỹ thuật cao: hangar lớn, xưởng sửa động cơ, thiết bị kiểm định, đội ngũ kỹ sư được chứng nhận quốc tế. Hiện nhiều hạng mục bảo dưỡng nặng của các hãng hàng không Việt Nam, đặc biệt là đại tu động cơ và tàu bay thân rộng, vẫn phải thực hiện ở nước ngoài (Singapore, Trung Quốc, Thái Lan...), rất tốn kém. Có MRO tại chỗ giúp giữ lại nguồn ngoại tệ đó, tạo việc làm kỹ thuật cao và thu hút cả máy bay nước ngoài đến sửa chữa.
Nếu một sản phẩm điện tử của Bắc Ninh có thể đi nhanh và tin cậy hơn từ nhà máy tới thị trường quốc tế; nếu chuyên gia tiếp cận các trung tâm sản xuất thuận lợi hơn; nếu quanh sân bay hình thành thêm logistics, bảo dưỡng tàu bay và dịch vụ kỹ thuật, thì hàng không bắt đầu trở thành một phần của hạ tầng năng lực cạnh tranh.
Tất nhiên, chúng ta không nên đơn giản hóa rằng cứ có sân bay lớn thì tăng trưởng sẽ tự đến. Một đường băng dù dài đến đâu cũng không tự tạo ra một chuỗi cung ứng; phía sau nó phải có nguồn hàng, mạng đường bay, doanh nghiệp logistics, hải quan, dữ liệu và hệ thống giao thông kết nối đủ tốt.
Điều này càng quan trọng khi định hướng phát triển Bắc Ninh không tách riêng hàng không mà yêu cầu hoàn thiện đồng bộ đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, đô thị thông minh và logistics đa phương thức. Một kiện hàng có thể bay hàng nghìn km trong vài giờ, nhưng nếu mất quá nhiều thời gian từ nhà máy tới sân bay hoặc nằm chờ vì thủ tục và dữ liệu không kết nối, lợi thế của vận tải hàng không sẽ bị bào mòn. Gia Bình vì thế chỉ phát huy hết giá trị khi được đặt trong một mạng lưới kinh tế vùng.
Không chỉ đưa hàng đi xa, mà phải giữ giá trị ở lại
Giá trị của Gia Bình còn tính bằng mỗi dòng hàng hóa sẽ tạo thêm bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế phía sau. Nếu hàng hóa chỉ được chuyển từ xe tải sang máy bay, tác động sẽ có giới hạn; nhưng nếu kéo theo kho chuyên dụng, chuỗi lạnh, phân loại, phân phối, thương mại điện tử, tài chính, dữ liệu và đào tạo, giá trị được giữ lại sẽ lớn hơn nhiều. Khi đó, sân bay không chỉ là nơi hàng hóa rời đi mà còn là nơi các hoạt động dịch vụ mới có thể hình thành.
MRO cũng cho thấy logic tương tự. Bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu tàu bay cần kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia động cơ, avionics, vật liệu, chất lượng, an toàn và chuỗi cung ứng phụ tùng; đó là những công việc có hàm lượng kỹ thuật và tri thức cao. Nếu những năng lực này hình thành cùng với logistics hàng không, Bắc Ninh có cơ hội không chỉ đưa hàng hóa đi xa hơn mà còn tạo ra một thị trường dịch vụ và lao động mới quanh hoạt động hàng không.
Bởi vậy, điều Bắc Ninh cần hướng tới không phải chỉ là đưa được nhiều hàng hóa hơn lên máy bay, mà là dùng khả năng kết nối ấy để dịch chuyển vị trí của mình trong chuỗi giá trị. Nếu hôm nay địa phương mạnh về sản xuất, ngày mai cần tiến thêm vào logistics, dịch vụ kỹ thuật, nghiên cứu, dữ liệu, thiết kế và những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Đó mới là ý nghĩa sâu hơn của việc một thành phố công nghiệp có thêm một cửa ngõ hàng không quốc tế.
Nhưng một thành phố không thể chỉ có nhà máy và sân bay
Bắc Ninh có một lợi thế mà không khu công nghiệp nào có thể xây mới bằng tiền. Năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Quan họ không chỉ là những câu hát trên sân khấu; phía sau nó là cộng đồng, làng quê, phong tục, lễ hội, bến nước, sân đình và một cách ứng xử đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Điều đó đặc biệt đáng suy nghĩ khi Bắc Ninh bước vào một thời kỳ đô thị hóa nhanh. Một thành phố có thể có nhà máy bán dẫn, trung tâm dữ liệu, cao tốc và sân bay quốc tế, nhưng sẽ mất đi một phần “căn cước quốc tế” của mình nếu những không gian đã sinh ra văn hóa Kinh Bắc dần biến mất, để rồi Quan họ chỉ còn được nghe trong nhà hát. Phát triển hiện đại không nên biến di sản chỉ còn trong phòng trưng bày; chính sức sống của di sản trong cộng đồng mới làm cho di sản tiếp tục sống.
Ở chiều ngược lại, khả năng kết nối quốc tế cũng có thể giúp Quan họ Bắc Ninh và văn hóa Kinh Bắc đi xa hơn. Sân bay đưa du khách tới gần hơn với Quan họ, làng nghề và các không gian văn hóa; nó cũng giúp nghệ sĩ, học giả, sản phẩm sáng tạo và những giá trị địa phương kết nối với thế giới thuận lợi hơn. Khi đó, Bắc Ninh có thể được nhận diện không chỉ là nơi sản xuất điện thoại, linh kiện hay bán dẫn, mà còn là một thành phố công nghệ mang một giá trị văn hóa riêng.
Bản sắc ấy còn có giá trị kinh tế theo một cách khác. Chuyên gia giỏi không chỉ chọn nơi có công việc tốt; họ còn quan tâm đến trường học, y tế, giao thông, môi trường và chất lượng sống cho gia đình. Muốn thu hút kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI, MRO hay logistics quốc tế, thành phố cũng phải cạnh tranh bằng môi trường sống, trong đó văn hóa là một phần tạo nên sự khác biệt.
Tôi vẫn nhớ những câu hát trong bài Những cô gái Quan họ đã nghe từ nhỏ. Hôm nay, khi một sân bay quốc tế đang được phát triển giữa một vùng công nghiệp công nghệ cao, hình ảnh câu Quan họ “bay xa” bỗng mang thêm một nghĩa mới: những chuyến bay có thể đưa kỹ sư, doanh nhân và sản phẩm của Bắc Ninh tới nhiều nơi trên thế giới, đồng thời đưa thế giới đến gần hơn với Kinh Bắc. Sẽ đẹp hơn nếu cùng với những chuyến bay ấy, câu Quan họ cũng tiếp tục bay xa, và dù bay xa đến đâu, người ta vẫn nhận ra đó là câu hát của quê hương, Tổ quốc Việt Nam.
Tác giả: TS. Nguyễn Phước Thắng là chuyên gia chuyển đổi số và phát triển bền vững, giảng viên Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Hòa Bình. Ông có 25 năm kinh nghiệm công tác trong ngành hàng không, nguyên là Chánh Văn phòng, Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Cục Hàng không Việt Nam.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!