
ThS.BS Nguyễn Việt Hà, Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, chia sẻ về ca bệnh - Ảnh: DƯƠNG LIỄU
Từ áp lực học tập đến cánh tay đầy vết thương
ThS.BS Nguyễn Việt Hà - phòng M5, Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai - dẫn trường hợp N.M.A., học sinh lớp 10, được gia đình đưa đến viện sau khi phát hiện nhiều vết thương ở cánh tay. Trước đó em thu mình, buồn chán, giảm tập trung và học tập sa sút.
M.A. vốn hiền lành, nhút nhát. Khi bước vào lớp 10, áp lực học tập tăng lên, trong khi việc giao tiếp với cha mẹ ngày càng khó khăn. Cảm giác không được thấu hiểu khiến em dần rút khỏi các tương tác trực tiếp và dành nhiều thời gian hơn trên mạng xã hội.
Ban đầu, điện thoại chỉ được sử dụng để giải trí. Khi tâm trạng đi xuống, M.A. bắt đầu xem nhiều nội dung về nỗi buồn, sự cô đơn và những trải nghiệm tiêu cực. Việc tương tác thường xuyên khiến em tiếp tục được đề xuất các nội dung tương tự.
Có thời điểm M.A. sử dụng mạng xã hội từ khoảng 23h đến 2-3h sáng. Thiếu ngủ kéo dài khiến sức khỏe và khả năng điều hòa cảm xúc của em bị ảnh hưởng.
Biến cố xảy ra khi M.A. trở thành mục tiêu của những lời chế giễu, công kích trên trang confession của trường. Sau một lần tranh cãi gay gắt với cha mẹ, cảm xúc uất ức, sợ hãi và hoảng loạn trở nên quá sức chịu đựng. Khi đó em nhớ đến những nội dung về tự gây thương tích từng xem trên mạng và bắt đầu tự làm đau mình.
M.A. cho biết sau khi tự gây thương tích, em cảm thấy dễ chịu hơn trong thời gian ngắn. Hành vi này sau đó lặp lại mỗi khi căng thẳng.
Em còn chụp ảnh các vết thương và đăng ẩn danh vào một nhóm kín trên mạng xã hội. Những lời chia sẻ, đồng cảm từ người có trải nghiệm tương tự giúp em có cảm giác được lắng nghe, nhưng đồng thời khiến em tiếp tục tiếp xúc với các nội dung liên quan đến tự gây thương tích.
M.A. không chia sẻ với cha mẹ, thường mặc áo dài tay để che vết thương. Khi gia đình phát hiện em có ý định tiếp tục tự gây thương tích, em được đưa đến Viện Sức khỏe tâm thần điều trị.
Qua thăm khám, bác sĩ xác định em có giai đoạn trầm cảm, đồng thời có hành vi tự gây thương tích.
M.A. được điều trị kết hợp thuốc và các liệu pháp tâm lý, trong đó bác sĩ trao đổi với cả em và gia đình về những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, bao gồm cách sử dụng mạng xã hội.

Một bệnh nhân tự gây thương tích trên cánh tay điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần, ảnh chụp hồi tháng 3-2026 - Ảnh: DƯƠNG LIỄU
Mạng xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ tự gây thương tích
Theo ThS.BS Nguyễn Thành Long - Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, mạng xã hội không phải nguyên nhân duy nhất dẫn đến hành vi tự gây thương tích, nhưng có thể làm gia tăng nguy cơ ở những trẻ vốn đã có yếu tố dễ tổn thương.
Tự gây thương tích không có ý định tự sát là hành vi cố ý gây tổn thương cho cơ thể nhưng không nhằm mục đích kết thúc cuộc sống. Hành vi này có thể được sử dụng như một cách điều hòa cảm xúc, giải tỏa căng thẳng, giảm đau khổ hoặc tự trừng phạt bản thân.
"Ở đây cần phân biệt tự gây thương tích với hành vi tự sát. Hai hành vi khác nhau về mục đích, nhưng tự gây thương tích là một yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến tự sát khi tình trạng tiến triển", bác sĩ Long nói.
Theo chuyên gia, một trong những cơ chế trên mạng xã hội là lây lan xã hội. Trẻ có thể bắt đầu xem các nội dung tiêu cực vì tò mò hoặc do tâm trạng buồn chán. Sau đó thuật toán tiếp tục đề xuất các nội dung tương tự, khiến trẻ ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với hình ảnh, ngôn ngữ và trải nghiệm liên quan đến tự gây thương tích.
"Đây là dạng phơi nhiễm thụ động. Trẻ có thể không chủ động tìm kiếm ngay từ đầu, nhưng dần được dẫn đến những nội dung tương tự thông qua hệ thống đề xuất của nền tảng", bác sĩ Long phân tích.
Bên cạnh đó các cộng đồng trực tuyến có thể tạo cảm giác được đồng cảm, nhưng trong một số trường hợp cũng làm tăng nguy cơ bắt chước khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với người có hành vi tương tự.
Bắt nạt trực tuyến, so sánh xã hội và áp lực về ngoại hình cũng là những yếu tố nguy cơ. Ngoài ra việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều, đặc biệt vào ban đêm, còn làm giảm thời gian ngủ. Thiếu ngủ kéo dài có thể khiến trẻ khó điều hòa cảm xúc, dễ cáu gắt, lo âu hoặc buồn chán hơn, từ đó góp phần làm tăng nguy cơ ở những trẻ vốn dễ tổn thương.
Đưa trẻ đến cơ sở chuyên khoa khi cần thiết
Theo bác sĩ Long, khi trẻ tiếp xúc với những hội nhóm, có hành vi tự hại, việc xử lý không nên chỉ dừng ở cấm trẻ sử dụng mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cần duy trì giao tiếp cởi mở, quan sát những thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi, giấc ngủ và học tập của trẻ.
Khi phát hiện trẻ tự gây thương tích, người lớn không nên trách mắng hoặc chỉ yêu cầu trẻ "không được làm nữa", mà cần tìm hiểu nguyên nhân phía sau hành vi và đưa trẻ đến cơ sở chuyên khoa khi cần thiết.
"Điều quan trọng là phải nhìn nhận tự gây thương tích như một dấu hiệu cho thấy trẻ đang gặp khó khăn trong việc điều hòa cảm xúc và cần được hỗ trợ, thay vì chỉ coi đó là một hành vi sai trái", bác sĩ Long nhấn mạnh.
Những cái bẫy giăng sẵn trên mạng xã hội đang đặt trẻ dưới 16 tuổi trước nhiều nguy cơ. Chỉ một cú tương tác, bị người lạ tiếp cận hay tiếp xúc với nội dung độc hại cũng có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường. Các chuyên gia chỉ ra cách phòng tránh.