Bỏ qua điều hướng
•

Bác sĩ nội trú: Nền móng chứ không phải đích đến

Bác sĩ nội trú: Nền móng chứ không phải đích đến
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Bác sĩ nội trú là nền móng nghề nghiệp, nơi rèn chuyên môn, bản lĩnh và trách nhiệm với giá trị lớn nhất là năng lực và sự tiếp nối.

Không chỉ là một kỳ thi tuyển khắt khe, bác sĩ nội trú (BSNT) còn là hành trình 3 năm với cường độ học tập, trực, nghiên cứu và thực hành lâm sàng cao. Với những người từng đi qua con đường này, giá trị lớn nhất không nằm ở danh xưng mà ở năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và sự tiếp nối giữa các thế hệ thầy thuốc.

Từ tuyển chọn tài năng đến những năm tháng "thực chiến"

Năm 1980, khi TS-BS Phan Đức Minh Mẫn (nguyên Trưởng khoa Vi phẫu tạo hình - Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, hiện là cán bộ giảng dạy tại Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) thi vào Trường ĐH Y Dược TP.HCM, có hơn 10.000 học sinh đăng ký nguyện vọng nhưng chỉ khoảng 300 người trúng tuyển. Chọn ngành y khi gia đình không có ai theo nghề, ông nói động lực khi ấy đơn giản là niềm yêu thích môi trường nhân đạo và sự đa dạng của nghề. Việc trở thành BSNT sau đó lại là một câu chuyện khác.

Ở thời điểm ông thi nội trú, sinh viên (SV) phải đáp ứng nhiều điều kiện ngay từ đầu: là Đoàn viên, có ít nhất 2 năm đạt danh hiệu SV tiên tiến, không nợ môn, không thi lại. Thí sinh phải có điểm trung bình trên 7 và trải qua các môn thi chuyên ngành cùng môn cơ sở, ngoại ngữ chuyên ngành. Khi đó, kỳ thi được tổ chức vào cuối năm thứ 5 và người trúng tuyển được phân bổ về các bộ môn có nhu cầu đào tạo BSNT.

Bác sĩ nội trú: Nền móng chứ không phải đích đến - Ảnh 1.

Bác sĩ nội trú là hành trình học hỏi, làm nghề và đào tạo thế hệ kế cận

ẢNH: BSCC

Bác sĩ nội trú: Nền móng chứ không phải đích đến - Ảnh 2.

TS-BS Phan Đức Minh Mẫn tại một hội thảo về chấn thương chỉnh hình

ẢNH: BSCC

Trên thực tế, "cuộc đua" bắt đầu từ rất sớm. SV phải chuẩn bị từ năm thứ 3, tham gia các buổi chuyên đề, lớp học chuyên ngành của các đàn anh, tìm đến các bệnh viện để học hỏi. Họ cũng phải tự tìm kiếm, hệ thống hóa tài liệu từ trong nước đến nước ngoài. Bài thi tự luận kéo dài 3 giờ khiến quá trình chuẩn bị càng thêm khắt khe. Không chỉ học kiến thức, thí sinh còn phải rèn kỹ năng trình bày chuyên đề, bệnh án và thuyết trình trước hội đồng gồm những thầy cô uy tín nhất và cũng "khó tính" nhất.

Theo TS-BS Phan Đức Minh Mẫn, ở thời điểm đó, kỳ thi nội trú được nhiều sinh viên xem như một cuộc tuyển chọn tài năng của khóa học. Được đứng trong danh sách BSNT khi ra trường là niềm tự hào lớn bởi điều đó đồng nghĩa với cơ hội học nghề trực tiếp từ những người thầy lớn để tiếp tục phát triển chuyên môn.

Năm 2001, TS-BS Đỗ Anh Toàn (Trưởng khoa Tiết niệu Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM) bước vào kỳ thi nội trú với suy nghĩ: tìm một môi trường buộc bản thân phải học và làm việc thật sự.

Xuất thân từ một gia đình thuần nông ở miền Trung, khi còn là chàng tân SV Trường ĐH Y Dược TP.HCM, ông chưa hình dung hết nghề y sẽ dài và nhiều thử thách đến mức nào. Điều khiến ông chọn vào nội trú không phải danh xưng mà là mong muốn được theo các thầy khám bệnh, vào phòng mổ, trực cấp cứu và theo dõi người bệnh từ lúc nhập viện đến khi xuất viện. "Tôi nghĩ đơn giản rằng nếu muốn trở thành một BS tốt thì hãy chọn nơi buộc mình phải học và làm việc nhiều nhất", ông chia sẻ.

Phần lớn thời gian đào tạo diễn ra ngay bên giường bệnh, trong phòng cấp cứu và phòng mổ. Có những ngày làm việc từ sáng, trực qua đêm rồi hôm sau tiếp tục công việc. Ngoài lâm sàng, BSNT phải học lý thuyết, đọc tài liệu và thực hiện nghiên cứu khoa học. Áp lực tài chính cũng là một phần của hành trình BSNT. Ở độ tuổi nhiều bạn bè đã đi làm, BSNT vẫn học, đóng học phí và dành phần lớn thời gian cho bệnh viện. Không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện hỗ trợ con cái trong nhiều năm.

Với thế hệ BSNT trước đây, khó khăn còn rõ hơn. TS-BS Phan Đức Minh Mẫn nhớ thời điểm kinh tế còn thiếu thốn, học bổng dành cho BSNT thấp hơn nhiều so với BS cơ hữu. Để có thêm thu nhập, một số BSNT phải làm thêm tại phòng mạch của các BS đàn anh.

Đổi lại, họ có thêm cơ hội làm việc sát cạnh những người đi trước, tích lũy kinh nghiệm và học nghề. Đặc biệt với BSNT chấn thương chỉnh hình, yêu cầu cập nhật kiến thức gần như liên tục bởi đây là lĩnh vực có nhiều tình huống cấp cứu. Ngoài chương trình chuyên ngành, BSNT phải tự học từ tài liệu nước ngoài, tìm hiểu kỹ thuật mới, quan điểm mới để trình bày trước đồng nghiệp và các thầy trong khoa.

Khởi đầu Hành trình tiếp nối

Theo TS-BS Đỗ Anh Toàn, tốt nghiệp BSNT không đồng nghĩa với thành công sớm. Ngược lại, đó là thời điểm bắt đầu một giai đoạn khó hơn: từ một BS được giám sát chuyển sang người ngày càng phải tự chịu trách nhiệm với quyết định chuyên môn của mình. Đặc biệt trong ngoại khoa, không ai trở thành phẫu thuật viên giỏi chỉ sau 3 năm.

Có kỹ thuật phải quan sát nhiều lần mới được thực hiện. Có ca mổ phải tích lũy qua nhiều năm mới đủ kinh nghiệm. Và có những bài học chỉ thực sự hiểu khi chính mình chịu trách nhiệm với người bệnh. Vì vậy, ông xem nội trú là nền móng, không phải đích đến.

Bác sĩ nội trú: Nền móng chứ không phải đích đến - Ảnh 3.

TS-BS Đỗ Anh Toàn khám bệnh cho người dân

ẢNH: DUY TÍNH

Sau khi tốt nghiệp, BSNT có nhiều cơ hội làm việc tại các bộ môn hoặc bệnh viện lớn có nhu cầu đào tạo. Theo TS-BS Phan Đức Minh Mẫn, nhờ được rèn luyện về kiến thức và kỹ năng, BSNT thường được tin tưởng giao việc chuyên môn, từng bước hoạt động độc lập trong phạm vi năng lực. Khi đạt được sự tín nhiệm của các thầy và khoa, họ có thể được giao những nhiệm vụ quan trọng hơn. Tay nghề nhờ đó phát triển nhanh, uy tín với đồng nghiệp được củng cố và cơ hội trở thành nhân tố chuyên môn, lãnh đạo khoa cũng rộng hơn.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý việc quá chú trọng thu nhập và các hoạt động kinh tế bên ngoài bệnh viện có thể khiến BS trẻ phân tán khỏi con đường phát triển chuyên môn.

Với TS-BS Đỗ Anh Toàn, điều đáng giá nhất của hệ thống nội trú nằm ở sự tiếp nối. Sau nhiều năm làm lâm sàng, phẫu thuật, giảng dạy, nghiên cứu và đảm nhận công tác quản lý, ông tiếp tục gặp những BSNT trẻ giống mình ngày trước: háo hức được mổ, muốn học kỹ thuật mới lẫn băn khoăn, trăn trở về tương lai, sự nghiệp.

Ngày trước, ông được các thầy hướng dẫn từng ca bệnh, từng bước phẫu thuật. Nay, trách nhiệm của ông và những người cùng thế hệ là tiếp tục đào tạo lớp BSNT kế tiếp. "Điều khiến tôi thấy những năm tháng cố gắng của mình có ý nghĩa là từ một người được đào tạo, mình trở thành người có trách nhiệm đào tạo người khác", TS-BS Đỗ Anh Toàn nói.

Từ trải nghiệm đó, ông khuyên SV không nên thi nội trú chỉ vì đây là một danh hiệu được đánh giá cao. Nếu lựa chọn, cần xác định đó là 3 năm học nghề với cường độ cao: đi nhiều hơn, nhìn nhiều hơn, hỏi nhiều hơn và làm nhiều hơn.

"Đừng vội trở thành người nổi tiếng trong nghề, hãy cố gắng trở thành người đáng tin cậy trong nghề", TS-BS Đỗ Anh Toàn nhắn nhủ. (còn tiếp) 

Kết nối BSNT với bệnh viện

Để BSNT có thể toàn tâm với chuyên môn, theo các BS, chính sách hỗ trợ cần đi xa hơn 3 năm đào tạo. Bên cạnh hỗ trợ học phí, cần có cơ chế kết nối BSNT với nhu cầu nhân lực của bệnh viện, nhất là những nơi thiếu BS chuyên khoa; đồng thời mở rộng cơ hội nghiên cứu, đào tạo trong và ngoài nước, tiếp cận kỹ thuật mới cũng như xây dựng lộ trình nghề nghiệp sau tốt nghiệp.

Kỳ thi bác sĩ nội trú từ lâu đã được xem như một cuộc tuyển chọn tinh hoa khắt khe của ngành y khoa. Nhìn lại chặng đường năm 1980, TS.BS Phan Đức Minh Mẫn cho biết thí sinh phải đáp ứng tiêu chuẩn gắt gao về thành tích, điểm trung bình trên 7 và chuẩn bị kiến thức chuyên sâu suốt nhiều năm trước hội đồng giám khảo uy tín. Sự sàng lọc nghiêm ngặt này biến chương trình nội trú thành môi trường rèn luyện thực chất thay vì chỉ là một danh xưng học thuật. Động lực bước vào hành trình ba năm đầy áp lực xuất phát từ mong muốn dấn thân vào môi trường thực chiến cao nhất. Năm 2001, TS.BS Đỗ Anh Toàn quyết định thi nội trú để tìm nơi buộc bản thân phải học hỏi và làm việc không ngừng bên giường bệnh, phòng mổ và ca trực cấp cứu. Việc trực tiếp theo sát người bệnh từ khi tiếp nhận đến lúc xuất viện giúp thế hệ thầy thuốc trẻ tôi luyện bản lĩnh vững vàng trước mọi thách thức lâm sàng. Giá trị cốt lõi của bác sĩ nội trú nằm ở năng lực chuyên môn và sự kế thừa tri thức qua từng giai đoạn. Cơ hội tiếp thu kinh nghiệm trực tiếp từ những người thầy đầu ngành chính là nền tảng vững chắc để người học hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp. Đây chính là bệ phóng thiết lập chuẩn mực trách nhiệm và y đức lâu dài cho các thế hệ y bác sĩ trong hệ thống y tế.
amung