Trong bối cảnh đó, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ đạo của mô hình phát triển mới.
Lấy doanh nghiệp và nhu cầu thị trường là trung tâm
Hiện nay, thế giới đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh chiến lược mới, trong đó công nghệ trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, vị thế và mức độ tự chủ của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, chính sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đang chuyển từ tập trung hỗ trợ nghiên cứu sang tiếp cận theo hệ thống, bao quát toàn bộ quá trình từ tạo lập, tiếp nhận, ứng dụng, cải tiến đến thương mại hóa công nghệ, lấy doanh nghiệp và nhu cầu thị trường làm trung tâm. Tuy nhiên, không có một mô hình chung cho mọi quốc gia và cách thức tổ chức phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, năng lực doanh nghiệp, nguồn nhân lực, chất lượng thể chế và quy mô thị trường. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tiếp cận khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo như một hệ thống liên kết đa chủ thể, trong đó hiệu quả phụ thuộc khả năng chia sẻ tri thức, nguồn lực và phối hợp giữa các bên. Ngân hàng Thế giới đưa ra chiến lược kép nâng cấp năng lực của doanh nghiệp hiện có thông qua quản trị, ứng dụng công nghệ, đồng thời hình thành doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp dựa trên tri thức.
Chính sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đang chuyển từ tập trung hỗ trợ nghiên cứu sang tiếp cận theo hệ thống, bao quát toàn bộ quá trình từ tạo lập, tiếp nhận, ứng dụng, cải tiến đến thương mại hóa công nghệ, lấy doanh nghiệp và nhu cầu thị trường làm trung tâm.
Theo các chuyên gia, các quốc gia lựa chọn mô hình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo khác nhau tùy thuộc vào điểm xuất phát, lợi thế, năng lực nội tại, song đều hướng tới nâng cấp năng lực sản xuất và từng bước tiến lên các khâu có giá trị gia tăng cao. Trong đó, Mỹ phát triển hệ sinh thái đổi mới phân quyền theo mô hình chính phủ hỗ trợ nghiên cứu nền tảng và chia sẻ rủi ro ở giai đoạn đầu, doanh nghiệp dẫn dắt phát triển sản phẩm, huy động vốn, mở rộng thị trường và thương mại hóa, qua đó tạo sự nối tiếp từ nghiên cứu đến ứng dụng. Trung Quốc phát huy vai trò định hướng chiến lược và huy động nguồn lực của nhà nước, kết hợp lợi thế về quy mô sản xuất, thị trường và cạnh tranh doanh nghiệp để thúc đẩy nội địa hóa, hoàn thiện chuỗi cung ứng và từng bước làm chủ công nghệ cao, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược. EU (nhất là các nước Bắc Âu) dựa vào hệ sinh thái hợp tác giữa nhà nước - đại học - doanh nghiệp, gắn nghiên cứu với thị trường và đổi mới theo sứ mệnh, tập trung nguồn lực giải quyết các thách thức lớn về chuyển đổi xanh, y tế, năng lượng, tự chủ công nghệ.
Kinh nghiệm chung cũng cho thấy phát triển công nghệ phải đi từ tích lũy năng lực nền tảng, lấy doanh nghiệp và nhu cầu thị trường làm trung tâm, đồng thời kết hợp hiệu quả nguồn lực nhà nước, vốn FDI và hệ sinh thái nghiên cứu đổi mới sáng tạo.
Phân tích mô hình Singapore, Trung Quốc và các quốc gia khác, Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân (nay là Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng, chất lượng quản trị quốc gia và năng lực thể chế có vai trò quyết định đối với hiệu quả phát triển và khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu gia tăng thì năng lực tự chủ chiến lược quốc gia ngày càng trở thành yếu tố sống còn đối với sự phát triển bền vững của mỗi nước.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phân tích kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Singapore và một số quốc gia cho rằng, đầu tư khoa học không nên dàn trải theo cơ quan, mà phải gắn với những bài toán công nghiệp, sản phẩm, thị trường và doanh nghiệp dẫn dắt. Đối với việc hỗ trợ số hóa cần xuất phát từ vấn đề kinh doanh cụ thể, có tiêu chuẩn kỹ thuật và đo lường hiệu quả sau đầu tư.
Đầu tư khoa học không nên dàn trải theo cơ quan, mà phải gắn với những bài toán công nghiệp, sản phẩm, thị trường và doanh nghiệp dẫn dắt.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bên cạnh đó, không thể áp dụng cơ chế tài chính và kiểm soát của hoạt động hành chính thông thường cho nghiên cứu có độ bất định cao. Nhà nước cần phân biệt thất bại do rủi ro khoa học, công nghệ hoặc thị trường với hành vi thiếu trách nhiệm, gian lận hay vụ lợi; đồng thời thiết lập cơ chế thu hồi, chia sẻ lợi ích phù hợp khi dự án thành công...
Định hình động lực tăng trưởng dài hạn
Đối với nước ta, sau bốn thập niên đổi mới đã chuyển từ nền kinh tế có thu nhập thấp, tương đối khép kín, sang nền kinh tế có độ mở lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, khi dân số bước vào quá trình già hóa, chi phí lao động tăng, yêu cầu giảm phát thải trở nên cấp thiết và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, dư địa của mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng vốn, lao động giá thấp và gia công, lắp ráp sẽ giảm dần.
(Ảnh: DIỆP NGỌC)
Theo Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, những chuyển động lớn về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, công nghệ lượng tử hay sản xuất thông minh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, chuỗi cung ứng quốc tế và mô hình phát triển truyền thống. Do đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là lĩnh vực hỗ trợ phát triển mà là nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững; động lực nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của nhân dân là điều kiện để bảo đảm tự chủ, tự cường trong một thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo.
Đổi mới mô hình phát triển không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu chiến lược đối với Việt Nam trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
Trong bối cảnh đó, bước vào giai đoạn phát triển mới, đổi mới mô hình phát triển không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu chiến lược đối với Việt Nam trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Thực tiễn cho thấy, khi khoa học, công nghệ đi vào từng dây chuyền sản xuất, từng sản phẩm, ngành hàng và phương thức quản trị sẽ tạo thêm giá trị và sức cạnh tranh cho nền kinh tế.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng khẳng định: Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bao trùm. Nghị quyết cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2035, mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động.
Mục tiêu đến năm 2045, kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; làm chủ các công nghệ chiến lược quan trọng. Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh…
Triển khai Nghị quyết 19-NQ/TW, Chính phủ ban hành Nghị quyết 217/NQ-CP về chương trình hành động, xác định 40 chỉ tiêu chủ yếu đổi mới mô hình phát triển đất nước đến năm 2030, 2035 và 2045. Trong đó, một số chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030, về kinh tế, tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP >55%; tỷ trọng tăng thêm của kinh tế số trong GDP là ≥ 30%; tốc độ tăng trưởng thị trường trung tâm dữ liệu bình quân 12%-15%/năm; xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) đến cuối kỳ thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới; có tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo ≥ 40%, tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa đến cuối kỳ ≥50%; Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN, thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về mức độ sẵn sàng AI theo xếp hạng của Oxford Insights-Government AI Readiness Index (GARI)...
(Còn nữa)
XUÂN KỲ