Bỏ qua điều hướng
•

Bể trầm tích Cửu Long, Nam Công Sơn, Sông Hồng có tiềm năng lưu trữ hàng chục tỉ tấn CO₂

Bể trầm tích Cửu Long, Nam Công Sơn, Sông Hồng có tiềm năng lưu trữ hàng chục tỉ tấn CO₂
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Việt Nam có tiềm năng lưu trữ CO₂ tại ba bể trầm tích chính gồm Cửu Long, Nam Côn Sơn và Sông Hồng.

Bể trầm tích Cửu Long, Nam Công Sơn, Sông Hồng có tiềm năng lưu trữ CO₂ - Ảnh 1.

TS Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí (VPI) - Ảnh: BTC

Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam”, do báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu và Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) tổ chức ngày 27-10.

Đánh giá tiềm năng lưu trữ carbon tại 34 mỏ dầu khí

TS Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí (VPI), cho biết Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã đánh giá sơ bộ tiềm năng lưu trữ CO₂ tại 34 mỏ dầu khí ngoài khơi. 

Cùng đó đã xác định Việt Nam có tiềm năng lưu trữ CO₂ tại ba bể trầm tích chính: Cửu Long, Nam Côn Sơn và Sông Hồng. Năm 2011, Việt Nam đã bơm ép CO₂ thành công tại mỏ Rạng Đông.

Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí năm 2026, trong đó bổ sung quy định liên quan đến công nghệ thu giữ, vận chuyển và lưu trữ khí CO₂ (CCUS), tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động này. 

Còn TS Nguyễn Thanh Tùng, Phó viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam kiêm Phó hiệu trưởng Trường đại học Dầu khí, chỉ ra Việt Nam có một số lợi thế để phát triển công nghệ CCUS. Trong đó nổi bật là tiềm năng lưu trữ CO2, cơ sở hạ tầng, kinh nghiệm của ngành dầu khí và nền tảng dữ liệu sẵn có.

Theo ông Tùng, các bể trầm tích của Việt Nam được đánh giá có khả năng lưu trữ lên tới hàng chục tỉ tấn CO2. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, đánh giá và triển khai các hoạt động CCUS trong thời gian tới.

Dù vậy, có những thách thức đặt ra cho phát triển lĩnh vực tiềm năng này. Ông Lê Văn Nghi, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc QIS Global, tính toán một dự án thu giữ carbon tại nhà máy nhiệt điện công suất khoảng 600 MW có thể cần vốn đầu tư lên tới 30 triệu USD.

Vì vậy để giải bài toán vốn, ông Nghi đề xuất xem xét triển khai theo module, với công suất thu giữ khoảng 10.000-20.000 tấn CO2 mỗi năm, đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng. 

Điểm đáng lưu ý là các ngành nhiệt điện, xi măng, thép, hóa chất và phân bón có thể nghiên cứu ứng dụng công nghệ này, nhưng cần lựa chọn giải pháp phù hợp với đặc điểm từng doanh nghiệp.

Cũng bởi việc thu giữ CO2 tại nhà máy mới chỉ là một phần của chuỗi công nghệ. Khí sau thu giữ còn cần được vận chuyển đến nơi sử dụng hoặc lưu trữ, đòi hỏi đầu tư đồng bộ vào đường ống, thiết bị nén, giếng bơm ép và hệ thống giám sát. 

Hiệu quả kinh tế vì vậy phụ thuộc vào công nghệ thu giữ, khoảng cách vận chuyển, quy mô dự án và chi phí lưu trữ.

Bể trầm tích Cửu Long, Nam Công Sơn, Sông Hồng có tiềm năng lưu trữ CO₂ - Ảnh 2.

Ông Tạ Đình Thi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - Ảnh: BTC

Hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp

Ông Tạ Đình Thi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng Việt Nam có nền tảng chính trị và bước đầu có cơ sở pháp lý để phát triển công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon.

Dù vậy để khai thác và tận dụng hiệu quả nguồn lực này, ông Thi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, đánh giá đầy đủ tiềm năng địa chất và tăng cường hợp tác quốc tế.

"Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học sẽ là điều kiện quan trọng để sớm triển khai các dự án CCUS đầu tiên, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050" - ông Thi nhấn mạnh.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cũng đề nghị nghiên cứu hoàn thiện hành lang pháp lý, đánh giá tiềm năng công nghệ và huy động nguồn lực phát triển CCUS, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Với công nghệ CCUS liên quan đến nhiều lĩnh vực, ông Yên yêu cầu phải rà soát, hoàn thiện các quy định theo hướng đồng bộ, làm rõ trách nhiệm của bộ, ngành cùng các bên tham gia trong từng công đoạn.

TS Lương kiến nghị sớm ban hành hướng dẫn về quyền lưu trữ, trách nhiệm dài hạn và công tác đo lường, báo cáo, thẩm định carbon. Giai đoạn 2027-2030 cần thực hiện thí điểm đánh giá chi tiết dung lượng lưu trữ tại từng mỏ, từng bể, hướng tới phát triển các trung tâm lưu trữ CO₂ (hub).

Việc này nhằm thực hiện lộ trình là từ năm 2028, Việt Nam sẽ vận hành chính thức sàn giao dịch tín chỉ carbon. Giai đoạn 2031-2050 sẽ tăng tốc để đạt mục tiêu Net Zero.

Đến năm 2050, Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0, chuyển đổi hoàn toàn sang năng lượng tái tạo, công nghệ thu giữ carbon (CCUS) và nền kinh tế tuần hoàn bền vững.

Bể trầm tích Cửu Long, Nam Công Sơn, Sông Hồng có tiềm năng lưu trữ hàng chục tỉ tấn CO₂  - Ảnh 4.Đề xuất tăng cường phân cấp, giao quyền cho Petrovietnam trong hoạt động dầu khí

Ngày 3-8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trình bày tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).

Việt Nam sở hữu tiềm năng lưu trữ carbon quy mô lớn tại ba bể trầm tích chính gồm Cửu Long, Nam Côn Sơn và Sông Hồng, với dung tích ước tính lên tới hàng chục tỉ tấn CO₂. Kết quả đánh giá sơ bộ của Petrovietnam tại 34 mỏ dầu khí ngoài khơi cùng tiền đề kỹ thuật từ đợt bơm ép CO₂ thành công tại mỏ Rạng Đông năm 2011 khẳng định nền tảng địa chất vững chắc cho chiến lược này. Bên cạnh đó, việc Quốc hội thông qua quy định về công nghệ thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCUS) trong Luật Dầu khí năm 2026 đã bước đầu tạo lập hành lang pháp lý quan trọng cho thị trường. Mặc dù giàu tiềm năng và tận dụng được hạ tầng dầu khí sẵn có, quá trình hiện thực hóa chuỗi giá trị CCUS đang đối mặt với rào cản chi phí đầu tư rất lớn. Điển hình, một dự án thu giữ carbon cho nhà máy nhiệt điện công suất 600 MW có thể đòi hỏi nguồn vốn lên tới 30 triệu USD. Để cân đối hiệu quả kinh tế trước bài toán đầu tư đồng bộ cho đường ống, hệ thống nén khí và giếng bơm ép, giải pháp triển khai phân kỳ theo từng module công suất từ 10.000 đến 20.000 tấn CO₂ mỗi năm đang được các chuyên gia kiến nghị áp dụng cho các ngành phát thải cao. Hiệu quả thương mại của CCUS gắn liền trực tiếp với khoảng cách vận chuyển, quy mô dự án và công nghệ thu giữ phù hợp với đặc thù từng doanh nghiệp nhiệt điện, xi măng hay hóa chất. Nhằm biến tiềm năng địa chất thành động lực kinh tế giảm phát thải thực chất, việc tiếp tục hoàn thiện khung khổ thể chế và ban hành cơ chế tài chính đặc thù là yêu cầu mang tính quyết định. Các bước đi chính sách đồng bộ sẽ tạo đòn bẩy huy động nguồn lực đầu tư, đưa lĩnh vực lưu trữ carbon từng bước phát triển thành một ngành dịch vụ năng lượng giá trị cao trong tương lai.
amung