Lỗi của ai?
Theo hồ sơ vụ án, vợ chồng ông C. có 7 người con, cùng sở hữu thửa đất rộng hơn 1.200m2 tại tỉnh Ninh Thuận cũ. Trên đất có căn nhà diện tích 360m2.
Năm 2014, bà S. (vợ ông C.) qua đời, không để lại di chúc.
Ngày 7/11/2014, ông C. cùng 3 người con là ông N., bà H. và bà H1. đến văn phòng công chứng lập văn bản phân chia di sản thừa kế. Theo nội dung văn bản, những người tham gia đồng ý cho và nhường toàn bộ phần di sản của bà S. là quyền sử dụng đất cho ông N..
Trong văn bản những người có mặt tại văn phòng công chứng cam đoan ngoài họ, bà S. không còn người thừa kế nào khác. Tuy nhiên, vợ chồng ông C. thực tế có 7 người con, trong đó 4 người là ông V., ông H2., ông H3. và bà N1. không hề biết chuyện phân chia di sản.
Ảnh minh họa AI.
Sau khi hoàn tất thủ tục, ông N. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/11/2014. Năm 2016, ông tiếp tục làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất ở đối với diện tích hơn 467m2.
Đến khi công việc làm ăn gặp khó khăn, ông N. thông báo với gia đình về tình hình nợ nần và ý định bán nhà đất để thanh toán các khoản nợ. Sau đó, vợ chồng ông N. chuyển nhượng nhà đất cho ông K..
Cuối tháng 5/2021, khi có người đến yêu cầu gia đình dọn khỏi nhà với lý do nhà đất đã được bán, ông V. (người con út) tìm hiểu và phát hiện việc phân chia di sản trước đó không có sự tham gia của mình cùng 3 người anh chị em khác.
Ông V. nói thêm, trước khi mẹ ông mất trên diện tích đất 1200m2 đã có căn nhà diện tích 360m2. Tuy nhiên, trong văn bản phân chia tài sản thừa kế cũng không đề cập đến căn nhà này.
Ông V. khởi kiện, yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N. và được nhận phần thừa kế bằng hiện vật.
Ông cũng không đồng ý công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông N. với ông K. vì anh trai tự ý bán đất, không có đầy đủ ý kiến của 7 thành viên trong gia đình.
Người bố cho biết bản thân ít học, tin tưởng con trai nên ký giấy tờ khi được ông N. nói là để làm thủ tục tách thửa. Người cha thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông V..
Trong khi đó, ông N. nói việc được tặng cho quyền sử dụng đất các anh chị em trong gia đình đều biết. Sau khi mẹ ông chết có họp gia đình nhưng không lập biên bản, ông được cấp sổ đỏ đối với thửa đất cả gia đình đều biết, không ai có ý kiến phản đối.
Sau đó, khi công việc làm ăn không thuận lợi, ông thông báo việc nợ nần cũng như ý định bán nhà trả nợ. Gia đình có tổ chức họp mặt, tất cả thành viên trong gia đình đều đồng ý việc này, tuy nhiên không lập biên bản.
Ông không chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản công chứng, hủy giấy chứng nhận. Trường hợp 4 người con còn lại được hưởng thừa kế, ông N. chỉ đồng ý thanh toán bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất lúa trước khi chuyển mục đích, còn nhà và vật kiến trúc trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông.
Bà H. - một trong 3 người được chia di sản - khẳng định toàn bộ nội dung văn bản chia di sản thừa kế đều là ý chí của những người có mặt, không có sự lừa dối. Việc ông N. làm ăn thua lỗ, nợ nần và có ý định bán nhà đều thông báo cho cả gia đình nhưng không ai có ý kiến gì.
Do đó, bà H. đề nghị tòa công nhận văn bản phân chia thừa kế và hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông N. với ông K..
Đại diện văn phòng công chứng cho biết, việc xác nhận văn bản phân chia tài sản dựa trên căn cứ giấy xác nhận của UBND cấp phường và cam kết của các đương sự. Việc các đương sự giấu thông tin về 4 người con còn lại của bà S. văn phòng công chứng không biết, đây là lỗi của các đương sự.
Cấp phúc thẩm hủy hai sổ đỏ, tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu
Ở cấp sơ thẩm, TAND tỉnh Ninh Thuận cũ tuyên văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 7/11/2014 vô hiệu. Tòa buộc ông N. thanh toán kỷ phần thừa kế cho bốn người em và người cha, với số tiền 300 triệu đồng dành cho ông C..
Tuy nhiên, tòa bác yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N. vào ngày 26/11/2014 và 6/6/2016. Tòa cũng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông K., công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông N. với người mua.
Không đồng ý với phán quyết này, ông V. và những người liên quan kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, TAND cấp cao TPHCM nhận định vợ chồng ông C. có 7 người con, không có con nuôi hoặc con riêng. Sau khi bà S. qua đời, việc lập văn bản phân chia di sản ngày 7/11/2014 không có ý kiến của 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn lại.
Hồ sơ thể hiện văn bản phân chia di sản được công chứng trên cơ sở giấy xác nhận tình trạng hộ tịch do UBND cấp phường chứng thực ngày 7/10/2014. Tuy nhiên, nội dung xác nhận vợ chồng ông C. chỉ có 3 người con là không đúng thực tế, không phù hợp với giấy khai sinh của các đương sự trong vụ án.
Từ đó, HĐXX nhận định việc cấp sơ thẩm tuyên văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Đối với hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N., HĐXX nhận định việc cấp giấy ngày 26/11/2014 dựa trên văn bản phân chia di sản thừa kế đã bị tuyên vô hiệu. Vì vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho ông N. không đúng quy định pháp luật.
Mặt khác, thửa đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông C., trong khi di sản bà S. để lại chỉ là quyền sử dụng một nửa thửa đất. Ông C. không có văn bản tặng cho ông N. phần quyền sử dụng đất thuộc về mình. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận đối với toàn bộ thửa đất cho ông N. cũng không đúng quy định.
Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông N. và ông K., HĐXX cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N. dựa trên văn bản phân chia di sản thừa kế, không xuất phát từ một giao dịch. Vì vậy, ông K. không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự.
HĐXX phúc thẩm xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N. không đúng quy định, nên cần tuyên bố các giao dịch chuyển nhượng nhà đất nói trên giữa ông K. và vợ chồng N. là vô hiệu.
Từ những nhận định trên, tòa phúc thẩm quyết định tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế được công chứng ngày 7/11/2014. Hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 26/11/2014 và ngày 6/6/2016 cho ông N..
Tòa bác yêu cầu độc lập của ông K. về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, đồng thời tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông N. với ông K.
(Bài viết khai thác thông tin từ bản án số 270/2023/DS-PT, ngày 15/5/2023 của TAND cấp cao tại TPHCM. Tên nhân vật đã được mã hóa).