Bỏ qua điều hướng
•

Cách 'biến di sản thành tài sản' ở một xã vùng sâu ở Lào Cai

Cách 'biến di sản thành tài sản' ở một xã vùng sâu ở Lào Cai
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Từ những đôi tay bền bỉ giữ nghề đan lát đến những nếp nhà sàn, món ăn truyền thống được đưa vào phục vụ du khách, người Tày ở Nghĩa Đô - một xã xa đường cao tốc thuộc tỉnh Lào Cai đang tìm cách trao truyền bản sắc văn hóa qua nhiều thế hệ, đồng thời tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng. Nghi thức ...

Những đôi tay giữ nghề của người Tày

Ở tuổi ngoài 60, bà Nguyễn Thị San, thôn Nà Khương, xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai, Chủ nhiệm Hợp tác xã Bảo tồn và phát huy nghề truyền thống xã Nghĩa Đô, vẫn miệt mài với những tấm vải lanh, thổ cẩm. Từ năm 16 tuổi, bà đã biết dệt vải, thêu hoa văn. Đến nay, những kỹ năng được học từ thế hệ trước vẫn theo bà trong cuộc sống thường ngày, đồng thời trở thành một phần trải nghiệm dành cho du khách khi đến với bản làng người Tày.

Ngôi nhà sàn của gia đình bà San vẫn giữ nếp sinh hoạt truyền thống. Những vật liệu quen thuộc như tre, cọ, gỗ được sử dụng làm hàng rào, cổng nhà; các sản phẩm đan lát, dệt lanh, thổ cẩm được đưa vào trang trí không gian lưu trú. Khách đến đây không chỉ có chỗ nghỉ mà còn được tiếp xúc với những sản phẩm thủ công gắn với đời sống của người dân địa phương.

Bà San cho biết, những sản phẩm dệt lanh, thổ cẩm đã gắn bó với mình nhiều năm. Tuy nhiên, để phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng, bà vẫn tìm hiểu, học hỏi và thay đổi một số họa tiết. Ngoài ra, bà còn kết hợp làm homestay, tham gia thành lập hợp tác xã phát triển nghề truyền thống, kết nối người làm nghề để tạo ra sản phẩm phục vụ du khách.

1.jpg
1787802279083-950438119589160962-950438119589160962-273cf40e2accd76d0d140944b6017576.jpg
Phụ nữ người Tày ở Nghĩa Đô tham gia Hợp tác xã Bảo tồn và phát huy nghề truyền thống, cùng gìn giữ và quảng bá nghề đan lát.

Không chỉ có những tấm vải lanh, thổ cẩm trong nhà bà San, nghề đan lát cũng đang được một nhóm phụ nữ ở Nghĩa Đô tìm cách khôi phục. 11 người phụ nữ, từ khoảng 30-35 tuổi đến ngoài 60 tuổi, cùng tham gia làm nghề. Người trẻ học cách chẻ nan, đan hoa văn từ những người lớn tuổi; người đã từng biết nghề thì nhớ lại những công đoạn từng gắn bó với mình.

Theo bà San, có thời gian nghề đan lát ở địa phương gần như bị bỏ quên. Nhiều phụ nữ không còn làm nghề từ khoảng những năm 1986-1987. Những người biết đan ngày càng ít, lớp trẻ cũng không có nhiều cơ hội học lại cách làm của cha ông.

Khi Nghĩa Đô bắt đầu phát triển du lịch cộng đồng, bà nghĩ đến việc khôi phục nghề cũ, tạo ra những sản phẩm có thể giới thiệu với khách. Năm 2019, bà vận động những phụ nữ lớn tuổi còn biết nghề cùng tham gia. Họ bắt đầu bằng việc học lại cách chọn cây, xử lý nguyên liệu, chẻ nan, nhuộm màu rồi mới đến công đoạn đan thành phẩm.

Hai năm đầu, các thành viên chủ yếu tập trung học và thực hành, chưa có thu nhập từ nghề. Người lớn tuổi chỉ lại từng công đoạn, người trẻ quan sát rồi làm theo. Có người trước đó chưa từng đan lát, phải nhìn những người đi trước làm nhiều lần mới quen tay. Hợp tác xã được thành lập năm 2021, sau quá trình tập hợp và khôi phục nghề.

Nguyên liệu làm ra sản phẩm chủ yếu là tre, nứa, cây giang... Người làm nghề thường lấy phần cật bên ngoài để đan, theo kinh nghiệm của họ, nan giữ được độ bền và tạo bề mặt đẹp hơn. Sau khi chặt cây, người làm phải bóc, cạo lớp vỏ, chẻ thành từng nan có độ dày phù hợp. Công đoạn nhuộm màu cũng được thực hiện bằng nguyên liệu tự nhiên. Củ nâu kết hợp với nhọ nồi tạo màu đen; những nan giữ màu nguyên bản tạo thành mảng sáng. Khi đan xen hai màu, các hoa văn dần hiện lên trên bề mặt sản phẩm.

Năm 2026, xã Nghĩa Đô được nhận giải thưởng VITA Awards 2026 với hạng mục "Làng du lịch cộng đồng hàng đầu năm 2025". Đây là giải thưởng do Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức. Trước đó, cụm 5 homestay của địa phương đã đạt Giải thưởng Homestay ASEAN giai đoạn 2023-2025; nghề đan lát và tri thức dân gian chế biến một số món ăn truyền thống của người Tày cũng được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Có những họa tiết mang hình quả trám, con rùa và các hình ảnh gần gũi với đời sống. Người làm nghề không phải lúc nào cũng gọi tên được từng hoa văn, nhưng vẫn nhớ cách đan đã được truyền lại. Từ những nan giang, nan nứa, họ làm thành giỏ đi chợ, túi xách, giỏ đựng hoa quả, khay đựng trầu và một số vật dụng sinh hoạt.

Thời gian đầu, sản phẩm làm ra chủ yếu để sử dụng trong gia đình, chưa có đầu ra. Khi khách du lịch tìm đến Nghĩa Đô, một số người ghé thăm nhà, xem cách làm, trải nghiệm đan lát và mua sản phẩm. Những đơn hàng từ bên ngoài cũng bắt đầu xuất hiện, nhưng số lượng chưa nhiều. Có đơn đặt vài chục sản phẩm, dự kiến giao trong một đến hai tuần, song nhóm phải kéo dài gần một tháng mới hoàn thành vì các thành viên còn bận việc đồng áng.

Ngoài 11 phụ nữ trực tiếp đan lát, hợp tác xã còn có 11 thành viên tham gia hoạt động homestay, đón khách và giới thiệu sản phẩm. Nhóm cũng được các trường học ở địa phương mời đến hướng dẫn học sinh tìm hiểu, thực hành nghề truyền thống. Những buổi truyền dạy ấy có khi dành cho học sinh mầm non, có khi dành cho các em ở bậc phổ thông.

Bà San cho biết, thu nhập từ đan lát hiện chưa cao, sản phẩm chủ yếu bán lẻ hoặc theo những đơn hàng nhỏ. Các thành viên vẫn duy trì công việc vì muốn giữ lại nghề truyền thống của người Tày, để những người trẻ có cơ hội biết và học cách làm.

2.jpg
tp-bl_0v5a8367.jpg
Các em nhỏ ở xã Nghĩa Đô tham gia trò chơi đi cà kheo, một nét sinh hoạt dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Cùng với nghề thủ công, cà kheo cũng là một trò chơi dân gian được người dân Nghĩa Đô lưu truyền. Theo lời kể của người địa phương, trước đây, khi chưa có cầu, đường đi lại còn khó khăn, người dân phải tìm cách vượt qua những con suối. Họ lấy những thân cây dài, tạo chỗ đặt hoặc kẹp chân để đứng lên cao, từ đó di chuyển qua dòng nước. Cách đi ấy về sau trở thành trò chơi trong sinh hoạt cộng đồng.

Ngày nay, cà kheo được đưa vào các hoạt động vui chơi, giao lưu trong những dịp lễ hội. Bên cạnh những trò chơi quen thuộc, việc giới thiệu cà kheo cũng giúp thế hệ trẻ biết thêm về cách sinh hoạt, đi lại của người xưa.

Từ nếp nhà đến sinh kế du lịch

Ở Nghĩa Đô, những nét văn hóa Tày còn hiện diện trong bữa ăn hằng ngày. Các món cá nướng hai lửa, vịt bầu lam ống nứa, cá suối chế biến bằng ống nứa hay rượu men lá được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Khi đón khách, các gia đình đưa những món ăn ấy vào thực đơn, giới thiệu cách chế biến và nguyên liệu tại địa phương.

Trong đó, cá nướng hai lửa, vịt bầu lam và rượu men lá của người Tày Nghĩa Đô đã được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Nghề đan lát truyền thống của người Tày ở Nghĩa Đô cũng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh trong năm này.

Với món vịt bầu lam, người dân sử dụng giống vịt bầu cổ xanh nuôi tại địa phương, sơ chế rồi đưa vào ống nứa để chế biến. Cá suối cũng có thể được làm chín bằng cách nướng hoặc lam trong ống tre, nứa. Những nguyên liệu sẵn có quanh bản làng, cách chế biến gắn với tập quán sinh hoạt đã tạo nên hương vị riêng của ẩm thực nơi đây.

Cá nướng hai lửa còn gắn với những dịp lễ, Tết của người Tày, trong đó có Tết tháng Bảy. Món ăn được chuẩn bị trong những dịp quan trọng của gia đình, dòng họ, cộng đồng. Khi trở thành sản phẩm phục vụ khách du lịch, món ăn vẫn được chế biến theo cách truyền thống, thay vì chỉ xuất hiện như một món đặc sản trong thực đơn.

Ông Lương Cao Thế, Trưởng phòng Văn hóa xã Nghĩa Đô, cho biết sau khi địa phương được công nhận là điểm du lịch năm 2021, hoạt động đón khách ban đầu còn tự phát, số hộ làm lưu trú và dịch vụ chưa nhiều. Năm 2022, ông quyết định sửa sang ngôi nhà sẵn có để làm homestay, trở thành một trong những người tiên phong phát triển loại hình này tại địa phương.

Ông Thế cho biết, gia đình chỉ đầu tư sửa chữa một số hạng mục, bố trí phòng nghỉ sạch sẽ, tách khu vực nuôi gia súc, gia cầm khỏi nơi lưu trú, trồng thêm hoa và sử dụng sản phẩm thủ công địa phương để trang trí. Những món ăn truyền thống như cá nướng hai lửa, cá suối lam ống nứa, vịt cổ xanh được đưa vào phục vụ khách.

Ban đầu, nhiều hộ còn e ngại vì chưa biết du lịch có thể duy trì lâu dài hay không. Sau khi một số gia đình mạnh dạn làm homestay và có khách, người dân bắt đầu tham gia nhiều hơn. Cụm 5 homestay của Nghĩa Đô được trao Giải thưởng Homestay ASEAN giai đoạn 2023-2025, góp phần tạo thêm niềm tin cho các hộ làm du lịch.

1793535123494-2043015342138610536-2043015342138610536-7702981eeafaaf742c0fa53ca128f22e.jpg
1787803677364-4609324773184134597-4609324773184134597-b535e2613860e3484c03c241ae9d9795.jpg
Xã Nghĩa Đô được vinh danh Làng du lịch cộng đồng hàng đầu năm 2025 nhờ những kết quả trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, gìn giữ môi trường và phát triển du lịch cộng đồng gắn với sự tham gia của người dân địa phương.

Những gia đình như bà San trước đây chủ yếu làm ruộng nương, đan lát, dệt vải hoặc đi làm ăn xa. Khi du lịch phát triển, họ có thêm công việc từ lưu trú, ăn uống, bán nông sản và sản phẩm thủ công. Các homestay cũng tạo nhu cầu sử dụng thực phẩm, thuê người phục vụ, qua đó mở thêm việc làm cho người dân trong bản.

Không chỉ người dân địa phương, những người trẻ từ nơi khác cũng tìm đến Nghĩa Đô để lập nghiệp. Nông Thị Vương, 23 tuổi, quê ở Bắc Hà, đến Nghĩa Đô năm 2025. Sau những ngày trải nghiệm cảnh quan và nếp sống nơi đây, Vương quyết định ở lại. Hiện cô cùng các cộng sự kinh doanh cà phê, đồng thời chuẩn bị cơ sở lưu trú. Khi chưa đủ điều kiện đón khách, nhóm liên kết với các homestay khác trong xã để phục vụ nhu cầu lưu trú.

Vương cho biết, điều khiến cô muốn gắn bó với Nghĩa Đô là không gian bình yên, những mái nhà sàn truyền thống, món ăn địa phương, tiếng đàn, tiếng hát và cơ hội được trực tiếp trải nghiệm làm đồ thủ công. Dù gia đình ban đầu còn do dự vì cô còn trẻ, Vương vẫn quyết định thử sức với công việc kinh doanh tại đây.

Theo ông Nguyễn Văn Phương, Bí thư Đảng ủy xã Nghĩa Đô, địa phương xác định không đánh đổi bản sắc văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế, mà phải phát huy văn hóa như một nguồn lực cho phát triển. Những ngôi nhà sàn, tiếng Then, đàn tính, ẩm thực, phong tục, nghề thủ công và nếp sống cộng đồng là những giá trị tạo nên sự khác biệt của Nghĩa Đô.

Năm 2026, xã Nghĩa Đô được nhận giải thưởng VITA Awards 2026 với hạng mục "Làng du lịch cộng đồng hàng đầu năm 2025". Đây là giải thưởng do Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức. Trước đó, cụm 5 homestay của địa phương đã đạt Giải thưởng Homestay ASEAN giai đoạn 2023-2025; nghề đan lát và tri thức dân gian chế biến một số món ăn truyền thống của người Tày cũng được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ông Phương cho biết, thời gian tới, Nghĩa Đô tiếp tục nâng cao chất lượng homestay, phát huy nghề thủ công, ẩm thực và các giá trị văn hóa Tày, hướng tới xây dựng hệ sinh thái du lịch cộng đồng. Trong đó, người dân là chủ thể trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ, bảo tồn văn hóa và cùng hưởng lợi từ hoạt động du lịch.

Tại xã vùng sâu Nghĩa Đô thuộc tỉnh Lào Cai, mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với bảo tồn nghề truyền thống đang mở ra hướng đi bền vững cho đồng bào dân tộc Tày. Thay vì để các giá trị thủ công mai một theo thời gian, địa phương đã từng bước đưa nếp nhà sàn, sản phẩm dệt lanh, thổ cẩm và đan lát vào không gian trải nghiệm phục vụ du khách. Đây được xem là lời giải thực tế cho bài toán chuyển hóa di sản văn hóa bản địa thành sinh kế thiết thực. Dấu ấn rõ nét của quá trình phục dựng nghề bắt đầu từ năm 2019 qua nỗ lực kết nối cộng đồng của bà Nguyễn Thị San tại thôn Nà Khương. Sau giai đoạn gần như bị lãng quên từ những năm 1986-1987, nhóm 11 phụ nữ thuộc nhiều thế hệ đã kiên trì học lại từng công đoạn xử lý nguyên liệu tự nhiên như tre, nứa, nhuộm màu củ nâu phối hợp nhọ nồi. Đến năm 2021, Hợp tác xã Bảo tồn và phát huy nghề truyền thống xã Nghĩa Đô chính thức thành lập, tạo nền tảng tổ chức sản xuất bài bản sau hai năm đầu hoàn toàn tập trung vào truyền dạy kỹ thuật. Bên cạnh việc giữ gìn kỹ năng đan lát và dệt thêu lâu đời, người dân chủ động cải tiến mẫu mã hoa văn nhằm đáp ứng thị hiếu của thị trường hiện đại. Sự kết hợp linh hoạt giữa lưu trú homestay với hoạt động giới thiệu sản phẩm thủ công giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị du lịch nông thôn. Hướng tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính kế thừa văn hóa giữa các thế hệ mà còn tạo động lực kinh tế nội sinh ổn định cho người làm nghề.
amung