Luật Phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua, có hiệu lực chính thức từ ngày 1/10, với nhiều cơ chế, chính sách mới về huy động nguồn lực và tổ chức phát triển đô thị. Trong đó, luật đề cập tới những chính sách phát triển đô thị theo hướng giao thông công cộng (TOD); phát triển hạ tầng giao thông, vận tải, logistics (dịch vụ hậu cần), bảo vệ môi trường; phát triển khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp; thu hút nhà đầu tư chiến lược…
Đủ quy mô hình thành những cấu trúc đầu tư mới
Nói về những cơ chế có khả năng tạo ra bước chuyển lớn nhất đối với TPHCM trong huy động nguồn lực, đặc biệt là thu hút vốn tư nhân và vốn quốc tế, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách Đại học Quốc gia TPHCM, cho rằng bước chuyển quan trọng nhất nằm ở khả năng đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn và gắn huy động vốn với giá trị kinh tế do phát triển đô thị tạo ra.
Đối với TPHCM, những công cụ đáng chú ý là khai thác giá trị gia tăng từ đất gắn với TOD - mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, hợp tác công tư (PPP), trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án và các công cụ của thị trường vốn theo khuôn khổ pháp luật tương ứng. Khi đầu tư giao thông làm tăng khả năng tiếp cận và giá trị đất tại khu vực phụ cận, một phần giá trị tăng thêm cần được khai thác minh bạch thông qua quy hoạch, đấu giá và các công cụ phù hợp để tái đầu tư cho hạ tầng.
“Qua đó có thể hình thành một cơ chế tuần hoàn nguồn lực: hạ tầng tạo ra giá trị, một phần giá trị được chuyển hóa thành nguồn lực và nguồn lực tiếp tục tài trợ cho phát triển đô thị”, PGS.TS Tình nói.
Tuyến metro số 1 đoạn qua quận 2 (cũ), TPHCM (Ảnh: Bảo Quyên).
Theo đó, dư địa huy động vốn còn lớn hơn khi các công cụ phát triển đô thị được kết nối với Trung tâm tài chính quốc tế, các mô hình khu thương mại tự do, đổi mới sáng tạo và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát theo các khung pháp lý tương ứng.
Theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, TPHCM có lợi thế về quy mô kinh tế, hệ sinh thái doanh nghiệp, thị trường tài chính, bất động sản, logistics, công nghệ, nguồn nhân lực và mức độ hội nhập để hình thành những cấu trúc đầu tư mới. Đặc biệt, việc kết nối nhu cầu vốn của các dự án đô thị, hạ tầng với Trung tâm tài chính quốc tế có thể mở rộng khả năng tiếp cận các quỹ đầu tư, định chế tài chính và nguồn vốn dài hạn quốc tế.
Thành phố cần xây dựng danh mục dự án có quy hoạch, pháp lý, quỹ đất, phương án tài chính, dòng tiền và cơ chế chia sẻ rủi ro đủ rõ để các quỹ đầu tư, định chế tài chính và nhà đầu tư chiến lược có thể thẩm định và cam kết vốn dài hạn.
“Cần kiểm soát chặt nghĩa vụ tài chính phát sinh trong tương lai, bởi huy động thêm vốn chỉ có ý nghĩa khi nguồn vốn được đưa vào những tài sản có khả năng tạo ra giá trị kinh tế tương xứng. Tư duy huy động nguồn lực cần chuyển từ “tìm tiền để làm dự án” sang “thiết kế dự án đủ tốt để vốn dài hạn tìm đến”.
Theo các chuyên gia, điểm đáng chú ý nhất của Luật Phát triển đô thị không nằm ở việc tạo thêm một vài cơ chế ưu đãi, mà là chuyển vai trò của Nhà nước từ chủ thể trực tiếp cung ứng phần lớn nguồn lực sang kiến tạo thể chế để huy động và dẫn dắt nguồn lực xã hội. Luật mở thêm không gian phân quyền và cơ chế huy động nguồn lực cho TPHCM.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Bá Chí Nhân phân tích cơ chế tài chính đô thị và phát triển theo giá trị đất đai gắn với hạ tầng lên hàng đầu. Trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án nếu được triển khai cùng các dự án có dòng tiền và tài sản bảo đảm rõ ràng sẽ giúp thành phố huy động nguồn vốn dài hạn, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào ngân sách.
Quan trọng hơn, khi hạ tầng giao thông, TOD và quy hoạch đô thị được tích hợp, giá trị đất tăng thêm do đầu tư công có thể được chuyển hóa thành nguồn lực tái đầu tư cho chính hạ tầng.
Đồng thời, với khu thương mại tự do, đây không chỉ là câu chuyện miễn, giảm thuế hay thuận lợi thương mại, mà phải được xem như một “hạ tầng thể chế” để thu hút các dòng vốn quốc tế vào logistics, cảng biển, sản xuất, thương mại, tài chính và nghiên cứu phát triển (R&D).
Tuy nhiên, thể chế chỉ thực sự trở thành nguồn vốn khi đi cùng năng lực thực thi.
“TPHCM cần nhanh chóng xây dựng danh mục dự án “đủ chuẩn đầu tư”, công khai dữ liệu, minh bạch quy hoạch, chuẩn hóa phương án tài chính và phân bổ rủi ro hợp lý. Khi đó, vốn ngân sách sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, còn tư nhân và quốc tế trở thành động cơ khuếch đại, giúp chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào ngân sách sang mô hình tăng trưởng dựa trên hạ tầng, thị trường vốn, đất đai, công nghệ và dòng vốn toàn cầu”, TS Nhân nói.
Cơ hội cho doanh nghiệp Việt nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị
Với những cơ hội mới của TPHCM, các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị này.
Lợi thế mới của TPHCM, theo các chuyên gia, nằm ở khả năng hình thành một hệ sinh thái tích hợp giữa tài chính, thương mại, logistics, công nghệ và hạ tầng đô thị.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình nói rằng, thành phố cần chuyển từ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quy mô vốn sang cạnh tranh về chất lượng dòng vốn, ưu tiên vốn dài hạn, công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, tài chính, logistics, kinh tế số và các dự án tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Năng lực cạnh tranh thực chất sẽ phụ thuộc vào tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách, thủ tục minh bạch, quỹ đất và danh mục dự án sẵn sàng, hạ tầng số, nguồn nhân lực quốc tế, dịch vụ tài chính - pháp lý và cơ chế giải quyết tranh chấp.
TPHCM đang đứng trước cơ hội lớn khi Luật Phát triển đô thị được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/10 (Ảnh: Nam Anh).
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, làn sóng đầu tư mới cần được xem là cơ hội nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ mở rộng thị trường xây lắp và cung ứng. Lộ trình cần chuyển từ nhà thầu, nhà cung ứng sang đối tác phát triển, chủ đầu tư và nhà phát triển dự án có khả năng tổ chức chuỗi giá trị.
Hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần được đánh giá đồng thời bằng mức độ nâng cấp của khu vực doanh nghiệp trong nước. Thành phố cần thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp Việt Nam và các tập đoàn quốc tế về công nghệ, quản trị, phát triển nhà cung ứng, nghiên cứu phát triển và cùng đầu tư. Qua đó tăng khả năng hấp thụ và lan tỏa của dòng vốn quốc tế.
TS Lê Bá Chí Nhân cũng cho rằng cần giải bài toàn cách nào để TPHCM trở thành nơi các tập đoàn quốc tế muốn đặt trung tâm vốn, trung tâm sản xuất, R&D và chuỗi cung ứng của khu vực. Và đây là thời điểm rất thuận lợi khi Luật Phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua đã luật hóa nhiều cơ chế mới, trong đó có khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế.
Muốn vậy, TPHCM cần thực hiện đồng thời ba chuyển đổi lớn.
Thứ nhất, chuyển từ ưu đãi đầu tư sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ quan tâm thuế hay tiền thuê đất, mà quan tâm nhất đến tính ổn định chính sách, thời gian cấp phép, khả năng tiếp cận đất đai, ngoại hối, giải quyết tranh chấp và mức độ minh bạch dữ liệu. Thành phố cần xây dựng cơ chế “một cửa đầu tư chiến lược”, lựa chọn và hỗ trợ xuyên suốt các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao và khả năng tạo chuỗi giá trị.
Thứ hai, Trung tâm tài chính phải trở thành hạ tầng vốn cho metro, TOD, cảng biển, logistics, hàng không, chuyển đổi xanh và công nghệ.
Thứ ba, khu thương mại tự do (FTZ) phải trở thành “bệ phóng” cho chuỗi cung ứng, chứ không chỉ là khu kho bãi và trung chuyển. Thành phố cần thu hút các tập đoàn dẫn dắt về logistics, bán dẫn, AI, thiết bị y tế, công nghiệp xanh, thương mại điện tử và dịch vụ tài chính. Đồng thời yêu cầu tỷ lệ liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực đủ mạnh.
Nếu làm tốt, mục tiêu cuối cùng không phải là thu hút thật nhiều vốn ngoại, mà là dùng vốn ngoại để nâng cấp vốn nội, công nghệ nội và doanh nghiệp nội. Khi đó, TPHCM không chỉ là điểm đến của FDI mà có thể trở thành trung tâm kết nối và phân bổ dòng vốn quốc tế của cả khu vực Đông Nam Á.