Bỏ qua điều hướng

Camera giúp người mù phục hồi khả năng nhìn

Camera giúp người mù phục hồi khả năng nhìn
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Hệ thống phục hồi thị lực cho người mù, gồm camera và các điện cực trong mắt, của một công ty đang được thử nghiệm tại Mỹ và châu Âu. Argus II , tên của hệ thống phục hồi thị lực cho người mù, là phát minh của công ty Second Sight tại bang California, Mỹ. Mỗi chiếc được bán với giá 100.000 USD . Hệ ...

Hệ thống phục hồi thị lực cho người mù, gồm camera và các điện cực trong mắt, của một công ty đang được thử nghiệm tại Mỹ và châu Âu.

Argus II, tên của hệ thống phục hồi thị lực cho người mù, là phát minh của công ty Second Sight tại bang California, Mỹ. Mỗi chiếc được bán với giá 100.000 USD. Hệ thống bao gồm 60 điện cực được cấy vào mắt người sử dụng, một camera có chức năng phát tín hiệu được gắn trên kính, AFP đưa tin.

Nguyên lý hoạt động của Argus II như sau: Camera trên kính ghi lại hình ảnh ở trước mặt người sử dụng và chuyển chúng thành tín hiệu điện. Sau đó tín hiệu điện được truyền từ camera tới dãy điện cực trong mắt người sử dụng.

Dãy điện cực biến tín hiệu điện thành tín hiệu hình ảnh rồi truyền chúng tới dây thần kinh thị giác và não. Nhờ đó người mù thấy chúng dưới dạng các chớp sáng và những hình khối mờ.

16 chiếc vừa được cấp phép sử dụng tại châu Âu. Còn tại Mỹ 16 chiếc đang được thử nghiệm. Trong số những người sử dụng có ông Elias Konstantopoulos, cựu thợ điện 72 tuổi.

Chào đời tại Hy Lạp, Konstantopoulos tới Mỹ khi còn là một thanh niên trẻ và trở thành thợ điện. Ở độ tuổi 43, Konstantopoulos nhận thấy ông không thể nhìn thấy hai cánh tay nếu chúng được dang rộng sang hai bên vai. Khi tới phòng khám của bác sĩ nhãn khoa, người thợ điện được thông báo rằng thị lực ngoại biên của ông đang giảm dần theo thời gian.


Ông Elias Konstantopoulos, một người mù trong vài chục năm qua, đang tham
gia thử nghiệm hệ thống Argus II. Ảnh: AFP.

Bác sĩ nói Konstantopoulos mắc bệnh viêm võng mạc sắc tố. Căn bệnh mang tính di truyền và không chữa được này tấn công khoảng 100.000 người Mỹ. Người bệnh mất dần các tế bào hình nón và hình que – hai loại tế bào tiếp nhận ánh sáng - ở võng mạc cho đến khi mù hẳn.

Khoảng 10 năm sau, thị lực của Konstantopoulos giảm tới mức ông không thể làm việc được nữa. Tới 5 năm trước thì ông trở thành người mù hoàn toàn. “Nếu mất thị lực, bạn gần như mất mọi thứ”, người đàn ông 72 tuổi tâm sự.

Năm 2009, bác sĩ của Konstantopoulos hỏi ông muốn tham gia một thử nghiệm hệ thống Argus II hay không. Ông gật đầu với tâm trạng háo hức. Konstantopoulos kể rằng việc cấy dãy điện cực vào mắt ông diễn ra trong khoảng ba giờ và không gây đau đớn. Sau đó chẳng ai nhận ra mắt ông được cấy điện cực nếu ông không nói.

Giờ đây mỗi sáng Konstantopoulos đeo cặp kính gắn camera và đứng gần cửa sổ hoặc sân để chờ đợi âm thanh của ô tô. Khi một chiếc ô tô chạy qua, người thợ điện già nói ông có thể thấy nó dưới dạng một khối ánh sáng.

Người đàn ông 72 tuổi đã có thể phân biệt được những vật thể có màu sắc với môi trường xung quanh chúng, tự xác định hướng trong phòng, mở cửa sổ và cửa chính. Ngoài ra, mỗi tuần ông tập luyện với chuyên gia một lần. Các bài tập bao gồm theo dõi vật thể di chuyển trên màn hình máy tính, xác định hình dáng đồ vật. Thị lực của ông tăng dần và ông có thể tự làm khá nhiều việc trong nhà.

"Điều mà tôi mong mỏi nhất là nhìn thấy mặt đứa cháu trai. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mặt nó", Konstantopoulos nói.

Từ một chiếc camera gắn trên kính đến những điện cực nằm trong mắt, Argus II đang mở ra hy vọng phục hồi một phần khả năng nhìn cho người mù. Hệ thống này do công ty Second Sight, đặt tại bang California, Mỹ, phát triển và hiện được thử nghiệm tại Mỹ cùng châu Âu. Mỗi thiết bị có giá 100.000 USD, gồm camera phát tín hiệu và dãy 60 điện cực được cấy vào mắt người sử dụng. Camera ghi lại hình ảnh trước mặt người đeo, sau đó chuyển hình ảnh thành các tín hiệu điện phù hợp với hệ thống. Những tín hiệu này truyền từ camera đến dãy điện cực nằm trong mắt, thay vì đi theo con đường thị giác tự nhiên. Dãy điện cực tiếp tục biến tín hiệu điện thành tín hiệu hình ảnh, rồi truyền chúng tới dây thần kinh thị giác và não. Người sử dụng Argus II chưa nhìn thấy thế giới với đầy đủ màu sắc, đường nét như người bình thường, mà nhận biết các chớp sáng và hình khối mờ. Dù còn hạn chế, những tín hiệu đơn giản ấy có thể giúp họ nhận ra vật thể, xác định hướng di chuyển và thực hiện một số công việc. Tại châu Âu, 16 thiết bị đã được cấp phép sử dụng, trong khi 16 thiết bị khác đang được thử nghiệm tại Mỹ. Một trong những người tham gia thử nghiệm là Elias Konstantopoulos, cựu thợ điện 72 tuổi từng sống nhiều năm trong bóng tối. Ông sinh tại Hy Lạp, đến Mỹ khi còn trẻ, sau đó làm nghề thợ điện trước khi căn bệnh về mắt dần tước đi khả năng lao động. Câu chuyện của Konstantopoulos cho thấy công nghệ phục hồi thị lực không chỉ liên quan đến thiết bị, mà còn gắn với sinh hoạt và hy vọng cá nhân. Ở tuổi 43, Konstantopoulos nhận ra mình không thể nhìn thấy hai cánh tay khi dang rộng sang hai bên vai. Bác sĩ nhãn khoa cho biết thị lực ngoại biên của ông đang suy giảm dần, rồi xác định nguyên nhân là bệnh viêm võng mạc sắc tố. Đây là căn bệnh di truyền, chưa có cách chữa, ảnh hưởng khoảng 100.000 người Mỹ và làm người bệnh mất dần khả năng tiếp nhận ánh sáng. Bệnh tấn công các tế bào hình nón và tế bào hình que trong võng mạc, khiến thị lực suy yếu theo thời gian. Khoảng 10 năm sau lần nhận thấy bất thường đầu tiên, Konstantopoulos suy giảm thị lực đến mức không thể tiếp tục công việc của một người thợ điện. Năm năm trước thời điểm tham gia thử nghiệm, ông đã mù hoàn toàn và cảm nhận sâu sắc những mất mát do thị lực biến mất. Năm 2009, bác sĩ hỏi Konstantopoulos có muốn tham gia thử nghiệm Argus II hay không, và ông đồng ý với tâm trạng háo hức. Ca cấy dãy điện cực vào mắt kéo dài khoảng ba giờ, không gây đau đớn, đồng thời gần như không để lộ dấu hiệu nếu ông không tự kể. Sau phẫu thuật, ông cần đeo kính có camera, luyện tập đều đặn để học cách hiểu những tín hiệu hình ảnh mới. Mỗi sáng, Konstantopoulos thường đứng gần cửa sổ hoặc ngoài sân, chờ âm thanh ô tô rồi dùng hệ thống nhận biết phương tiện đi qua. Ông có thể thấy chiếc ô tô như một khối ánh sáng, phân biệt vật thể có màu sắc với nền xung quanh, xác định hướng trong phòng, mở cửa sổ và cửa chính. Hằng tuần, ông tập cùng chuyên gia bằng cách theo dõi vật thể trên màn hình máy tính, nhận dạng hình dáng đồ vật, rồi từng bước tự làm thêm nhiều việc trong nhà, với mong mỏi lớn nhất là được nhìn thấy khuôn mặt người cháu trai mà ông chưa từng thấy.