Căn cứ khởi nghĩa Ba Đình trong phong trào Cần vương
Dự án bảo tồn, tôn tạo di tích khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình ở xã Ba Đình, được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt năm 2022, khởi công năm 2025 với tổng mức đầu tư hơn 95 tỷ đồng đã cơ bản hoàn thiện.
Trên diện tích khoảng 1,6 ha, di tích gồm nhiều hạng mục như đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình, tả vu, hữu vu, phù điêu, nghi môn, hào lũy...
Khởi nghĩa Ba Đình do Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Trần Xuân Soạn... và nhiều sĩ phu yêu nước tại Thanh Hoá khởi xướng nhằm hưởng ứng Chiếu Cần vương do vua Hàm Nghi kêu gọi năm 1885.
Dự án bảo tồn, tôn tạo di tích khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình ở xã Ba Đình, được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt năm 2022, khởi công năm 2025 với tổng mức đầu tư hơn 95 tỷ đồng đã cơ bản hoàn thiện.
Trên diện tích khoảng 1,6 ha, di tích gồm nhiều hạng mục như đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình, tả vu, hữu vu, phù điêu, nghi môn, hào lũy...
Khởi nghĩa Ba Đình do Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Trần Xuân Soạn... và nhiều sĩ phu yêu nước tại Thanh Hoá khởi xướng nhằm hưởng ứng Chiếu Cần vương do vua Hàm Nghi kêu gọi năm 1885.
Ở vị trí trung tâm khu di tích là đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình với 7 gian thông nhau, có hành lang ba bên, gồm 6 hàng cột, hình thức kiến trúc chồng diêm hai tầng 8 mái. Vật liệu thi công chính là gỗ lim và đá xanh.
Theo tư liệu lịch sử, Ba Đình những năm cuối thế kỷ 19 nằm trên ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê, thuộc huyện Nga Sơn cũ. Những ngôi làng này nằm giữa vùng đồng chiêm trũng, được bao bọc bởi sông Hoạt và sông Chính Đại. Địa hình sông nước, hệ thống lũy tre và vị trí các làng tương đối gần nhau tạo điều kiện xây dựng căn cứ phòng thủ liên hoàn.
Ba đồn chính tương ứng với ba làng. Đồn Thượng ở Thượng Thọ do Nguyễn Viết Toại chỉ huy; đồn Trung tại Mậu Thịnh do Đinh Công Tráng phụ trách; đồn Hạ ở Mỹ Khê do Phạm Bành và Nguyễn Khế đảm nhiệm. Các vị trí được nối bằng giao thông hào, giúp lực lượng bên trong cơ động và hỗ trợ lẫn nhau.
Ở vị trí trung tâm khu di tích là đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình với 7 gian thông nhau, có hành lang ba bên, gồm 6 hàng cột, hình thức kiến trúc chồng diêm hai tầng 8 mái. Vật liệu thi công chính là gỗ lim và đá xanh.
Theo tư liệu lịch sử, Ba Đình những năm cuối thế kỷ 19 nằm trên ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê, thuộc huyện Nga Sơn cũ. Những ngôi làng này nằm giữa vùng đồng chiêm trũng, được bao bọc bởi sông Hoạt và sông Chính Đại. Địa hình sông nước, hệ thống lũy tre và vị trí các làng tương đối gần nhau tạo điều kiện xây dựng căn cứ phòng thủ liên hoàn.
Ba đồn chính tương ứng với ba làng. Đồn Thượng ở Thượng Thọ do Nguyễn Viết Toại chỉ huy; đồn Trung tại Mậu Thịnh do Đinh Công Tráng phụ trách; đồn Hạ ở Mỹ Khê do Phạm Bành và Nguyễn Khế đảm nhiệm. Các vị trí được nối bằng giao thông hào, giúp lực lượng bên trong cơ động và hỗ trợ lẫn nhau.
Mái đền được lợp hai lớp. Lớp dưới là ngói liệt khắc hoa văn chữ Thọ và phía trên là ngói mũi hài thủ công đốt bằng rơm có nguồn gốc từ Thạch Thất.
Kiến trúc đền có mái cong truyền thống như những ngôi đình, chùa cổ ở Việt Nam, với tượng rồng phía trên.
Bên trong đền thờ thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình được bài trí trang nghiêm, nổi bật với hệ thống cột gỗ, hoành phi và các mảng chạm khắc, sơn son thếp vàng mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống.
Bên trong đền thờ thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình được bài trí trang nghiêm, nổi bật với hệ thống cột gỗ, hoành phi và các mảng chạm khắc, sơn son thếp vàng mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống.
Kết cấu gỗ lim chạm khắc hình rồng và hoa văn tinh xảo ở ngoài hiên đền thờ nghĩa quân Ba Đình. Hệ thống cửa chính khu đền cũng làm từ gỗ lim, chạm khắc hoa văn rồng, hoa sen, hoa cúc...
Kết cấu gỗ lim chạm khắc hình rồng và hoa văn tinh xảo ở ngoài hiên đền thờ nghĩa quân Ba Đình. Hệ thống cửa chính khu đền cũng làm từ gỗ lim, chạm khắc hoa văn rồng, hoa sen, hoa cúc...
Hai ngôi nhà tả vu, hữu vu ở căn cứ khởi nghĩa Ba Đình dành làm nơi đón tiếp du khách, bày lễ vật khi tham quan, thắp hương...
Hai ngôi nhà tả vu, hữu vu ở căn cứ khởi nghĩa Ba Đình dành làm nơi đón tiếp du khách, bày lễ vật khi tham quan, thắp hương...
Tượng rồng bằng đá xanh nguyên khối đặt ở bậc thềm đền thờ thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình.
Tượng rồng bằng đá xanh nguyên khối đặt ở bậc thềm đền thờ thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình.
Hình tượng nghĩa binh trong tư thế sẵn sàng chiến đấu được phục dựng ở Ba Đình và ảnh những người lính bị quân Pháp bắt giữ, chịu gông cùm trước khi đưa đi hành hình năm 1887.
Lực lượng thường trực tại căn cứ Ba Đình khoảng 300 người, được tổ chức thành 10 cơ đội. Vũ khí chủ yếu của nghĩa quân là súng hỏa mai, súng kíp, súng thần công, cung, nỏ, giáo, mác và chông tre.
Sau khi lập căn cứ, nghĩa quân nhiều lần tập kích các vị trí trọng yếu và tuyến giao thông quanh Ba Đình. Một trong những mục tiêu chú ý là đồn Tam Cao trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc Nam. Các hoạt động này gây sức ép lên hệ thống đồn bốt và tuyến vận chuyển chiến lược khiến phía Pháp phải tăng cường lực lượng phòng bị và ráo riết tìm cách sớm đàn áp.
Hình tượng nghĩa binh trong tư thế sẵn sàng chiến đấu được phục dựng ở Ba Đình và ảnh những người lính bị quân Pháp bắt giữ, chịu gông cùm trước khi đưa đi hành hình năm 1887.
Lực lượng thường trực tại căn cứ Ba Đình khoảng 300 người, được tổ chức thành 10 cơ đội. Vũ khí chủ yếu của nghĩa quân là súng hỏa mai, súng kíp, súng thần công, cung, nỏ, giáo, mác và chông tre.
Sau khi lập căn cứ, nghĩa quân nhiều lần tập kích các vị trí trọng yếu và tuyến giao thông quanh Ba Đình. Một trong những mục tiêu chú ý là đồn Tam Cao trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc Nam. Các hoạt động này gây sức ép lên hệ thống đồn bốt và tuyến vận chuyển chiến lược khiến phía Pháp phải tăng cường lực lượng phòng bị và ráo riết tìm cách sớm đàn áp.
Cây cầu dẫn vào trung tâm khu đền thờ nghĩa quân Ba Đình, hai bên là mô phỏng cọc tre, rọ rơm trộn bùn tạo thành hào luỹ.
Theo tư liệu lịch sử, để lập căn cứ Ba Đình, nghĩa quân huy động mỗi làng đóng góp 30 chiếc rọ lớn, 100 cây tre tươi còn nguyên ngọn và 10 gánh rơm. Tre được dùng làm hàng rào, rọ tre chứa đất, bùn và rơm rạ để gia cố thành. Có thời điểm người dân chỉ trong một đêm đã đắp hơn một km tường đất để hoàn thiện công sự.
Căn cứ được bố trí thành nhiều lớp. Vòng ngoài là lũy tre và các chốt gác, tiếp đến là hào nước sâu khoảng 3-4 m, các bãi chông và thành đất dày 8-10 m. Trên mặt thành, những rọ tre chứa đất, bùn trộn rơm rạ được xếp thành từng lớp, vừa gia cố công sự vừa tạo vị trí che chắn và chiến đấu.
Cây cầu dẫn vào trung tâm khu đền thờ nghĩa quân Ba Đình, hai bên là mô phỏng cọc tre, rọ rơm trộn bùn tạo thành hào luỹ.
Theo tư liệu lịch sử, để lập căn cứ Ba Đình, nghĩa quân huy động mỗi làng đóng góp 30 chiếc rọ lớn, 100 cây tre tươi còn nguyên ngọn và 10 gánh rơm. Tre được dùng làm hàng rào, rọ tre chứa đất, bùn và rơm rạ để gia cố thành. Có thời điểm người dân chỉ trong một đêm đã đắp hơn một km tường đất để hoàn thiện công sự.
Căn cứ được bố trí thành nhiều lớp. Vòng ngoài là lũy tre và các chốt gác, tiếp đến là hào nước sâu khoảng 3-4 m, các bãi chông và thành đất dày 8-10 m. Trên mặt thành, những rọ tre chứa đất, bùn trộn rơm rạ được xếp thành từng lớp, vừa gia cố công sự vừa tạo vị trí che chắn và chiến đấu.
Khẩu súng thần công bằng gang đặt trên bệ đá mô phỏng hiện vật dùng trong chiến đấu của nghĩa binh Ba Đình.
Tư liệu lịch sử chép, trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Ba Đình, ngày 18/12/1886, quân Pháp mở cuộc tiến công Ba Đình từ hai hướng do trung tá Metzinger và Dodds chỉ huy, kết hợp bộ binh với pháo binh. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, buộc đối phương chuyển sang bao vây và tăng cường lực lượng. Đầu tháng 1/1887, đại tá Brissaud được điều tới chỉ huy chiến dịch, khoảng 2.500 quân cùng pháo binh được huy động. Từ ngày 6/1, các mũi tiến công liên tục áp sát, pháo binh và thuốc nổ từng bước phá hệ thống phòng thủ.
Đến ngày 20/1, sau hơn một tháng bị bao vây, căn cứ ngày càng bị cô lập, khả năng tiếp tế hạn chế, nghĩa quân quyết định rút khỏi Ba Đình để bảo toàn lực lượng. Sau đó, một bộ phận do Đinh Công Tráng chỉ huy rút về Mã Cao tiếp tục chiến đấu, song căn cứ này cũng bị đánh phá.
Khẩu súng thần công bằng gang đặt trên bệ đá mô phỏng hiện vật dùng trong chiến đấu của nghĩa binh Ba Đình.
Tư liệu lịch sử chép, trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Ba Đình, ngày 18/12/1886, quân Pháp mở cuộc tiến công Ba Đình từ hai hướng do trung tá Metzinger và Dodds chỉ huy, kết hợp bộ binh với pháo binh. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, buộc đối phương chuyển sang bao vây và tăng cường lực lượng. Đầu tháng 1/1887, đại tá Brissaud được điều tới chỉ huy chiến dịch, khoảng 2.500 quân cùng pháo binh được huy động. Từ ngày 6/1, các mũi tiến công liên tục áp sát, pháo binh và thuốc nổ từng bước phá hệ thống phòng thủ.
Đến ngày 20/1, sau hơn một tháng bị bao vây, căn cứ ngày càng bị cô lập, khả năng tiếp tế hạn chế, nghĩa quân quyết định rút khỏi Ba Đình để bảo toàn lực lượng. Sau đó, một bộ phận do Đinh Công Tráng chỉ huy rút về Mã Cao tiếp tục chiến đấu, song căn cứ này cũng bị đánh phá.
Tại khu di tích, diễn biến về cuộc khởi nghĩa Ba Đình cũng được tái hiện qua hai bức phù điêu bằng đá khổ lớn. Các nghệ nhân đã phục dựng hình ảnh từ quá trình nghĩa quân chuẩn bị lực lượng đến giai đoạn chiến đấu và hy sinh anh dũng.
Dù thất bại, khởi nghĩa Ba Đình trở thành một trong những căn cứ tiêu biểu của phong trào Cần vương tại Thanh Hóa cuối thế kỷ 19.
Năm 1945, bác sĩ Trần Văn Lai làm Đốc lý Hà Nội đã đổi tên vườn hoa Pugininer trước Phủ Toàn quyền Đông Dương thành Vườn hoa Ba Đình, gợi nhớ cuộc khởi nghĩa tại Thanh Hóa. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại đây. Từ đó, Ba Đình trở thành tên quảng trường và quận trung tâm của Hà Nội, gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước.
Căn cứ khởi nghĩa Ba Đình tại Thanh Hóa được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Tuy nhiên, sau 140 năm, phần lớn dấu tích của căn cứ cũ không còn. Năm 2022, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình với tổng mức đầu tư hơn 95 tỷ đồng, công trình đã cơ bản hoàn thiện.
Tại khu di tích, diễn biến về cuộc khởi nghĩa Ba Đình cũng được tái hiện qua hai bức phù điêu bằng đá khổ lớn. Các nghệ nhân đã phục dựng hình ảnh từ quá trình nghĩa quân chuẩn bị lực lượng đến giai đoạn chiến đấu và hy sinh anh dũng.
Dù thất bại, khởi nghĩa Ba Đình trở thành một trong những căn cứ tiêu biểu của phong trào Cần vương tại Thanh Hóa cuối thế kỷ 19.
Năm 1945, bác sĩ Trần Văn Lai làm Đốc lý Hà Nội đã đổi tên vườn hoa Pugininer trước Phủ Toàn quyền Đông Dương thành Vườn hoa Ba Đình, gợi nhớ cuộc khởi nghĩa tại Thanh Hóa. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại đây. Từ đó, Ba Đình trở thành tên quảng trường và quận trung tâm của Hà Nội, gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước.
Căn cứ khởi nghĩa Ba Đình tại Thanh Hóa được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Tuy nhiên, sau 140 năm, phần lớn dấu tích của căn cứ cũ không còn. Năm 2022, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình với tổng mức đầu tư hơn 95 tỷ đồng, công trình đã cơ bản hoàn thiện.
Lê Hoàng