Bỏ qua điều hướng

Cần giải pháp đồng bộ phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học

Cần giải pháp đồng bộ phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học là xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp xanh nhờ ưu điểm an toàn, thân thiện với môi trường. Tuy có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển, nhưng việc sản xuất và sử dụng loại thuốc này ở nước ta hiện nay vẫn còn không ít thách thức. Phát triển thuốc bảo vệ thực vật sin...

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nước ta hiện có khoảng 900 tên thương phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học được đăng ký và cấp phép lưu hành, tăng hơn 100 tên thương phẩm so với năm 2020. Trong đó, thuốc bảo vệ thực vật vi sinh vật chiếm 12%, thuốc thảo mộc chiếm 17% và thuốc hóa sinh chiếm 71%. Cả nước có 97 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật thì có tới 86 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.

Mặc dù có nhiều khởi sắc nhưng việc sản xuất, sử dụng loại vật tư nông nghiệp này hiện còn không ít khó khăn. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam cho biết, các quy định quản lý, đăng ký hiện hành còn nhiều bất cập, chưa có các chính sách hỗ trợ cụ thể để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển. Bên cạnh đó, chuỗi liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người nông dân vẫn còn lỏng lẻo, khiến việc chuyển giao công nghệ vào thực tiễn gặp không ít khó khăn.

Các quy định quản lý, đăng ký hiện hành còn nhiều bất cập, chưa có các chính sách hỗ trợ cụ thể để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển. Bên cạnh đó, chuỗi liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người nông dân vẫn còn lỏng lẻo, khiến việc chuyển giao công nghệ vào thực tiễn gặp không ít khó khăn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam

Cố vấn Hội Doanh nghiệp Sản xuất và Kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) Nguyễn Văn Vấn cho rằng, các doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ, dây chuyền đầu tư chưa bài bản và chưa làm chủ được công nghệ cốt lõi. Hầu hết phụ thuộc vào đối tác nước ngoài ở khâu bản quyền, nguyên liệu và công nghệ khiến thị trường không ổn định.

Ở một số địa phương, người sử dụng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, vẫn có thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học vì hiệu quả cao, tức thời, giá thành rẻ. Chưa kể các thuốc bảo vệ thực vật sinh học có chi phí sử dụng cao, thời gian bảo quản ngắn, phổ tác động hẹp, hiệu quả chậm hơn so với thuốc hóa học và hiệu quả bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoại cảnh, cho nên chưa được người sử dụng ưa chuộng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam lên 30% so với tổng số thuốc bảo vệ thực vật; tăng lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học lên 30% so với tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng; nâng tỷ lệ các cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học lên 90% so với tổng số cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất. Đồng thời, xây dựng được mô hình sử dụng thuốc hiệu quả trên chín nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia (lúa, cà-phê, cao su, điều, hồ tiêu, chè, cây ăn quả, rau, sắn).

Để đạt được mục tiêu nêu trên, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Phạm Văn Toản cho rằng, cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát, chỉnh sửa và đổi mới quy định quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam.

Cùng với đó, đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cấp phép lưu hành; ban hành danh mục các thuốc bảo vệ thực vật sinh học an toàn được ưu tiên đăng ký nhanh hoặc đặc cách công nhận lưu hành. Sự ưu tiên này cần hướng tới các sản phẩm là kết quả của các nhiệm vụ khoa học-công nghệ đã được công nhận tiến bộ kỹ thuật, các sản phẩm vi sinh tạo ra từ các vi sinh vật bản địa, an toàn sinh học cấp độ một hoặc các sản phẩm đã được công nhận/cấp phép lưu hành tại các quốc gia phát triển (OECD) và có lịch sử sử dụng an toàn đối với người, động vật và môi trường. Đồng thời, xem xét tăng thời gian hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật sinh học lên 10-15 năm.

Bên cạnh việc rà soát, bổ sung và hoàn thiện các tiêu chuẩn đã ban hành, ngành chức năng cần xây dựng mới các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn cơ sở về chất lượng thuốc bảo vệ thực vật sinh học; đẩy mạnh khâu đánh giá và tăng cường thanh tra, kiểm tra để bảo đảm chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức, hiểu biết của người sản xuất, tiêu dùng và cộng đồng về vai trò của loại vật tư nông nghiệp này. Biên soạn, phát hành tài liệu hướng dẫn bảo quản, sử dụng và tăng cường công tác khuyến nông thông qua các mô hình sản xuất, cung ứng, quản lý dịch hại tổng hợp trên những cây trồng chủ lực tại các vùng sinh thái trong phạm vi cả nước. Ưu tiên kinh phí cho việc xây dựng mạng lưới thu thập, lưu giữ, bảo tồn nguồn gien vi sinh vật, thảo mộc làm nguyên liệu nghiên cứu, phát triển nhóm thuốc nêu trên. Đồng thời, đẩy mạnh phối hợp giữa các cơ sở viện, trường với doanh nghiệp trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ; cụ thể hóa các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và ưu đãi tổ chức, doanh nghiệp đầu tư sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở quy mô công nghiệp.

Anh Thư

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đang trở thành giải pháp cốt lõi trong định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh và bền vững tại Việt Nam. Theo thống kê từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nước ta hiện có khoảng 900 tên thương phẩm thuốc sinh học được cấp phép lưu hành, ghi nhận sự hiện diện của 86 cơ sở sản xuất trên tổng số 97 cơ sở toàn quốc. Dù quy mô thị trường có sự tăng trưởng tích cực, ngành hàng này vẫn chịu nhiều rào cản từ cơ chế quản lý bất cập, quy trình đăng ký phức tạp và chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu chưa thực sự rõ ràng. Phân tích sâu hơn về mặt kỹ thuật và thị trường, thực trạng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu cũng như công nghệ cốt lõi nhập khẩu đang khiến các doanh nghiệp nội địa rơi vào thế thụ động. Ông Nguyễn Văn Vấn, Cố vấn Hội Doanh nghiệp Sản xuất và Kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA), chỉ ra rằng phần lớn đơn vị trong nước có quy mô nhỏ, đầu tư thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, thói quen lạm dụng thuốc hóa học giá rẻ của người nông dân cùng hạn chế đặc thù của thuốc sinh học như phổ tác động hẹp, hiệu quả chậm và chi phí cao cũng làm giảm sức cạnh tranh thực tế của dòng sản phẩm thân thiện với môi trường này. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu vật tư nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt mục tiêu chiến lược đến năm 2030 nâng tỷ lệ thuốc sinh học được phép sử dụng và lượng tiêu thụ lên mức 30%. Đồng thời, tỷ lệ cơ sở sản xuất đạt chuẩn sinh học hướng tới mốc 90%, đi kèm việc nhân rộng các mô hình sử dụng hiệu quả trên chín nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia như lúa, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và chè. Việc thắt chặt liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ là chìa khóa tháo gỡ bài toán chuyển giao công nghệ, hiện thực hóa mục tiêu xanh hóa sản xuất nông nghiệp trong thập kỷ tới.