Bỏ qua điều hướng
•

Cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ trông vào ngân hàng

Cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ trông vào ngân hàng
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Doanh nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa phát huy hết vai trò. Đa dạng hóa kênh huy động vốn là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ trông vào ngân hàng - Ảnh 1.

Các chuyên gia cho rằng cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ nghĩ đến ngân hàng - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Cần vốn, nhiều doanh nghiệp nghĩ ngay đến vay ngân hàng

Tại hội thảo "Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số" do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan sát tổ chức ngày 22-10, ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương - đặt vấn đề về nguồn lực tài chính nào để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cao.

Theo ông, tổng vốn đầu tư cần huy động trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, hơn gấp đôi mức 17,4 triệu tỉ đồng của giai đoạn 2021-2025. Trong đó, vốn đầu tư nhà nước dự kiến khoảng 12,5 triệu tỉ đồng, vốn đầu tư ngoài nhà nước khoảng 20,4 triệu tỉ đồng và vốn đầu tư của khu vực FDI khoảng 5,6 triệu tỉ đồng. Riêng nhu cầu vốn đầu tư công vào khoảng 8,3-8,5 triệu tỉ đồng.

Nhu cầu đầu tư tăng mạnh đặt thêm áp lực lên khả năng cung ứng vốn dài hạn của hệ thống ngân hàng. Thực tế, khoảng 80% vốn huy động của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi gần 50% dư nợ tín dụng là trung và dài hạn.

Vì vậy, bên cạnh việc củng cố năng lực của hệ thống ngân hàng, ông Hiển cho rằng cần phát triển các kênh huy động vốn trực tiếp như cổ phiếu, trái phiếu và quỹ đầu tư.

Tiến sĩ Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia , cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có xu hướng phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Khi thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp thường tìm đến ngân hàng thay vì chủ động huy động từ các kênh khác trên thị trường.

"Tại sao doanh nghiệp không nghĩ nhiều hơn đến những kênh huy động vốn khác? Phải chăng một bộ phận doanh nghiệp chưa muốn công khai, minh bạch thông tin hoặc chưa quen với việc hoạt động theo các nguyên tắc của thị trường?", ông Lực đặt vấn đề.

Theo ông, doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận các kênh huy động vốn khác, qua đó đa dạng hóa nguồn vốn và góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước, tính đến giữa tháng 10, huy động vốn tăng 11,22%, còn tín dụng tăng 11,44% so với cuối năm 2025. Chênh lệch giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay khoảng 1,44 triệu tỉ đồng.

Trước diễn biến tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, TS. Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia kinh tế, nhận định tình trạng này gây sức ép lên tỉ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động. Đồng thời, các ngân hàng phải cạnh tranh lãi suất để hút tiền gửi.

Bà cũng cho rằng sự phụ thuộc ngày càng lớn vào tín dụng ngân hàng đang làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống tài chính. Đây là một trong những điểm nghẽn đối với tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026, đồng thời đặt ra thách thức lớn cho năm 2027.

Cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ trông vào ngân hàng - Ảnh 2.

Cần phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu để giảm áp lực cho ngân hàng - Ảnh: HỮU HẠNH


Phát triển thị trường vốn để giảm áp lực tín dụng

Theo TS. Cấn Văn Lực, trong giai đoạn 2020 đến 9 tháng đầu năm 2026, vốn ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, trong khi thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu, chỉ chiếm khoảng 14-15%. Nếu tính thêm trái phiếu Chính phủ, tỷ trọng này vào khoảng 23-24%.

“Thông thường, trong mô hình phát triển hướng tới sự bền vững, thị trường vốn cần chiếm khoảng 30% trở lên, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng”, ông nhấn mạnh.

Còn PGS.TS Phùng Tiến Đông, chuyên gia kinh tế, cho rằng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, cần phát huy vai trò bổ trợ giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Hai kênh dẫn vốn cần được vận hành đồng bộ, phù hợp với từng giai đoạn trong vòng đời dự án.

Ở giai đoạn đầu, khi dự án cần vốn triển khai, tín dụng ngân hàng có thể đóng vai trò chủ đạo. Khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động, doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và hạn chế áp lực lên hệ thống tín dụng.

Ông Đông cũng khuyến nghị cần phát triển các nhà đầu tư dài hạn, đặc biệt là các quỹ đầu tư, để tạo nền tảng cho thị trường vốn vận hành hiệu quả. Thị trường muốn phát triển bền vững cần có nguồn cung hàng hóa chất lượng, dòng vốn đầu tư ổn định và lực cầu đủ lớn.

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng, việc phát triển thị trường vốn trung và dài hạn sẽ giúp đa dạng hóa nguồn cung vốn, chia sẻ áp lực với hệ thống ngân hàng. Đồng thời, giải pháp này giúp hạn chế việc sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho đầu tư dài hạn.

Theo ông Đông, khi thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp được phát triển đồng bộ và hiệu quả hơn, nền kinh tế sẽ có thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và các dự án đầu tư trọng điểm quốc gia.

Cần vốn, doanh nghiệp gần như chỉ trông vào ngân hàng - Ảnh 4.Thủ tướng yêu cầu quý 4 tăng trưởng trên 12,5%, không tăng giá điện, giữ mục tiêu lạm phát 2026

Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Thủ tướng yêu cầu quý 4 tăng trưởng trên 12,5%, đồng thời kiểm soát chặt giá cả và không tăng giá điện.

Tại hội thảo "Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số" ngày 22-10, các chuyên gia cảnh báo về áp lực dồn lên kênh tín dụng khi doanh nghiệp trong nước vẫn giữ thói quen trông cậy gần như hoàn toàn vào ngân hàng. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 ước tính lên tới khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, tăng hơn gấp đôi giai đoạn trước. Thực tế này đòi hỏi thị trường tài chính phải có lời giải căn cơ nhằm khơi thông nguồn lực dài hạn thay vì phó mặc cho hệ thống tổ chức tín dụng. Sự phụ thuộc trên đang bộc lộ rủi ro lệch pha kỳ hạn rõ nét khi khoảng 80% vốn huy động của ngân hàng là ngắn hạn dưới 12 tháng, nhưng gần 50% dư nợ cho vay lại nằm ở kỳ hạn trung và dài hạn. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy đến giữa tháng 10, tín dụng tăng 11,44% trong khi huy động vốn chỉ tăng 11,22%, tạo ra mức chênh lệch khoảng 1,44 triệu tỉ đồng. Xu hướng tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ huy động vốn làm gia tăng áp lực thanh khoản, buộc các nhà băng phải cạnh tranh lãi suất tiền gửi. Theo các chuyên gia kinh tế, nút thắt chỉ có thể tháo gỡ khi doanh nghiệp chủ động nâng cao tính minh bạch để huy động vốn trực tiếp qua cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư. Việc phát triển đồng bộ thị trường vốn không chỉ giúp giảm tải rủi ro hệ thống cho ngành ngân hàng mà còn tạo nền tảng vững chắc để nền kinh tế hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.
amung